|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 29-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiện
Bà Mai Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận
Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị B (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Phương T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/11/2023 đến ngày 29/11/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Bùi Thị N; địa chỉ: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bà Lê Thị H2; địa chỉ: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Ông Trịnh Hoàng L; địa chỉ: Số A đường D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Ông Vũ Quang N1; địa chỉ: Đường H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Ông Đỗ Hoàng L1; địa chỉ: Số D đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 23/11/2023, tại cửa hàng C (địa chỉ số A Tập thể B, Khu C, Lô H, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng), Công an phường N bắt quả tang Nguyễn Mạnh H đang có hành vi thu tiền cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Nguyễn Mạnh H thu của anh Vũ Quảng N2, sinh 1998, trú tại: Đường H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng số tiền là 26.000.000 đồng; thu của anh Đỗ Hoàng L1, sinh 1996, trú tại: Số D N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng số tiền là 15.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã làm rõ trong khoảng thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 11/2023, Nguyễn Mạnh H cho 05 người vay lãi suất cao (dưới hình thức bốc bát họ và tín chấp), với tổng số tiền cho vay là: 91.000.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 46.507.124 đồng, cụ thể như sau:
1. Bà Bùi Thị N, sinh 1970, nơi thường trú: Tổ A phường Đ, quận H, Hải Phòng vay của Hiệu 5 lần:
- Lần 1: Ngày 12/6/2023, H cho bà N vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Thực tế bà N đã trả liên tục trong 30 ngày và đã kết thúc bát họ. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 243,3%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà N tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 328.767 đồng. Như vậy, H đã thu lợi bất chính số tiền 3.671.233 đồng.
- Lần 2: Ngày 12/7/2023, H cho bà Bùi Thị N vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Đối với bát họ 1 thì bà N đã thanh toán được số tiền là 18.000.000 đồng, còn nợ lại 6.000.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà N số tiền 13.500.000 đồng, sau khi trừ đi số tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng. Đối với bát 2 thì bà N đã đóng được liên tục trong 35 ngày và đã kết thúc bát họ. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 208,6%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà N tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 383.561 đồng. Như vậy, H đã thu lợi bất chính số tiền 4.116.439 đồng.
- Lần 3: Ngày 17/8/2023, bà Bùi Thị N đến gặp H để đổi bát họ bằng cách kết thúc bát họ 2 và vay thêm bát họ 3. H đã cho vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Tính đến ngày 17/8/2023, bà N đã trả được số tiền của bát 2 là 21.000.000 đồng, còn nợ lại 3.000.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà N số tiền 16.500.000 đồng (sau khi trừ đi số tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng). Đối với bát 3 thì bà N đóng liên tục được 35 ngày và đã kết thúc bát họ. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 208,6%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà N tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 383.561 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.116.439 đồng.
- Lần 4: Ngày 21/9/2023, bà Bùi Thị N đến gặp H để đổi bát họ bằng cách kết thúc bát họ 3 và vay thêm bát họ 4. H đã cho vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Tính đến ngày 21/9/2023, bà N đã trả được số tiền của bát 3 là 21.000.000 đồng, còn nợ lại 3.000.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà N số tiền 16.500.000 đồng ( sau khi trừ đi số tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng). Đối với bát 4 thì bà N đóng liên tục được trong 33 ngày và đã kết thúc bát họ. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 221,2%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà N tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 361.644 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.138.356 đồng.
- Lần 5: Ngày 24/10/2023, bà Bùi Thị N đến gặp H để đổi bát họ bằng cách kết thúc bát họ 4 và vay thêm bát họ 5. H đã cho vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Tính đến ngày 24/10/2023, bà N trả được số tiền của bát 4 là 19.800.000 đồng, còn nợ lại 4.200.000 đồng. Vì vậy, H chỉ đưa cho bà N số tiền 15.300.000 đồng (sau khi trừ đi số tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng). Tính đến thời điểm H bị bắt quả tang, đối với với bát 5: bà N đã đóng liên tục được 30 ngày là 18.000.000 đồng, còn nợ lại 6.000.000 đồng. Như vậy, H được hưởng lợi 3.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà N tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 328.767 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 3.171.233 đồng.
Tổng hợp 5 lần bà N vay của H gồm : Số tiền sử dụng để cho vay là 20.000.000 đồng; số tiền lãi đã thu tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 1.786.300 đồng; số tiền thu lời bất chính là: 19.213.700 đồng; số tiền gốc còn nợ lại: 6.000.000 đồng.
2. Bà Lê Thị H2, sinh 1972; nơi thường trú: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vay của Hiệu 5 lần:
- Lần 1: Ngày 22/6/2023 Hiệu cho bà H2 vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Ngay sau khi giao tiền, H có thu bà H2 số tiền 500.000 đồng tiền dịch vụ. Đối với bát 1 thì bà H2 đóng liên tục được trong 30 ngày và đã kết thúc bát họ. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 243,3%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà H2 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 328.767 đồng. Như vậy, H đã thu lợi bất chính số tiền 4.171.233 đồng.
- Lần 2: Ngày 22/7/2023, bà H2 đến gặp H để đổi bát họ bằng cách kết thúc bát họ 1 và vay thêm bát họ 2. H đã cho vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Đối với bát họ 1 thì bà H2 đã thanh toán được số tiền là 18.000.000 đồng, còn nợ lại 6.000.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà N số tiền 13.500.000 đồng (sau khi trừ đi số tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng). Đối với bát họ 2 thì bà Lê Thị H2 đã đóng được liên tục trong 32 ngày và đã kết thúc bát họ số 2. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 228,13%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà H2 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 350.685 đồng. Như vậy, H đã thu lợi bất chính tổng số tiền 4.149.315 đồng.
- Lần 3: Ngày 23/8/2023, bà H2 đến gặp H để đổi bát họ bằng cách kết thúc bát họ 2 và vay thêm bát họ 3. H đã cho vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Đối với bát họ 2 thì bà H2 đã trả được số tiền 19.200.000 đồng, còn nợ lại là 4.800.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà H2 số tiền là 14.700.000 triệu đồng sau khi trừ tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng. Đối với bát họ 3 thì bà H2 đã đóng được liên tục trong 35 ngày và đã kết thúc bát họ số 3. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 208,6%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà H2 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 383.561 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.116.439 đồng.
- Lần 4: Ngày 27/9/2023, bà H2 đến gặp H để đổi bát họ bằng cách kết thúc bát họ 3 và vay thêm bát họ 4. Hiệu cho vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Đối với bát họ 3 thì bà H2 đã trả được số tiền 21.000.000 đồng của bát số 3, còn nợ lại 3.000.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà H2 số tiền 16.500.000 đồng (sau khi trừ tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng). Đối với bát họ 4 thì bà H2 đã đóng được liên tục trong 31 ngày và đã kết thúc bát họ số 4. Như vậy, H được hưởng lợi 4.000.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 235,48%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà H2 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 339.726 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 4.160.274 đồng.
- Lần 5: Ngày 28/10/2023, H cho bà H2 vay số tiền 20.000.000 đồng theo hình thức bốc bát họ, mỗi ngày phải trả 600.000 đồng. Đối với bát họ 4 thì bà H2 đã trả được số tiền 18.600.000 đồng, còn nợ lại 5.400.000 đồng. Vì vậy H chỉ đưa cho bà H2 số tiền 14.100.000 đồng (sau khi trừ tiền còn nợ lại và tiền dịch vụ là 500.000 đồng). Tính đến thời điểm H bị bắt quả tang, đối với bát họ 5 bà H2 đã đóng liên tục được 26 ngày là 15.600.000 đồng, còn nợ lại 8.400.000 đồng. Như vậy, H được hưởng lợi 2.600.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của bà H2 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 284.932 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 2.815.068 đồng.
Tổng hợp 5 lần bà H2 vay của H: Số tiền sử dụng để cho vay là 20.000.000 đồng; số tiền lãi đã thu tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là: 1.687.672 đồng; số tiền thu lời bất chính là: 19.412.328 đồng; số tiền gốc còn nợ lại: 8.400.000 đồng.
3. Ngày 19/11/2023, anh Vũ Quang N1, sinh 1998; trú tại: Đường H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vay của Hiệu số tiền 26.000.000 đồng với lãi suất 4.000đ/1triệu/ngày và thoả thuận 10 ngày sẽ thu lãi một lần số tiền 1.040.000 đồng. Hiệu chỉ đưa cho anh N1 số tiền 24.960.000 đồng (sau khi trừ số tiền 1.040.000 đồng tiền lãi trong 10 ngày). Tuy nhiên, đến ngày 23/11/2023, anh N1 đã trả toàn bộ số tiền gốc 26.000.000 đồng trên cho H. Thời gian từ lúc anh N1 vay đến khi kết thúc khoản vay là 5 ngày. Như vậy, H được hưởng lợi 1.040.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 292%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của anh N1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 71.233 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 968.767 đồng.
4. Ngày 22/11/2023, anh Đỗ Hoàng L1, sinh 1996, trú tại: Số D đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vay của Hiệu số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 4.000đ/1triệu đồng/ngày và thoả thuận 10 ngày sẽ thu lãi một lần số tiền 600.000 đồng. Hiệu chỉ đưa cho anh Đỗ Hoàng L1 số tiền 14.400.000 đồng (sau khi trừ số tiền 600.000 đồng tiền lãi trong 10 ngày). Tuy nhiên, đến ngày 23/11/2023, anh L1 đã đến quán trả toàn bộ số tiền gốc 15.000.000 đồng cho H. Thời gian từ lúc anh L1 vay đến khi kết thúc khoản vay là 2 ngày. Như vậy, H được hưởng lợi 600.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 730%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của anh Đỗ Hoàng L1 tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 16.438 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 583.562 đồng.
5. Ngày 29/8/2023, anh Trịnh Hoàng L, sinh 1995; trú tại: Số A đường D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng vay của Hiệu số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 7.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày. Ngay sau khi vay tiền thì Hiệu thu của anh L số tiền lãi trong 10 ngày là 700.000 đồng và 500.000 đồng tiền dịch vụ nên H chỉ đưa cho anh L số tiền 8.800.000 đồng. Đến ngày 22/11/2023 thì anh L đã trả toàn bộ số tiền gốc và lãi cho H. Khi kết thúc khoản vay thì H đã thu được của anh L số tiền lãi là 6.300.000 đồng tiền lãi. Số ngày đã đóng lãi là 86 ngày. Như vậy, H được hưởng lợi 6.300.000 đồng tiền lãi, tương đương lãi suất 267,38%/năm. Theo quy định của pháp luật số tiền lãi Hiệu được thu của anh Trịnh Hoàng L tối đa là 20%/năm tương đương số tiền 471.233 đồng. H đã thu lợi bất chính số tiền 6.328.767 đồng.
Tại Kết luận giám định số 424/KLGĐ ngày 29/2/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Mạnh H trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1 đến A6 so với mẫu chữ ký, chữ viết của người mang tên Nguyễn Mạnh H trên các mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M4 là do cùng một người ký, viết ra.
Tại Kết luận giám định số 614/KLGĐ ngày 06/3/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số IMEI 359314064479951 không tìm thấy dữ liệu nghi liên quan đến việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được lưu trong máy.
Tại cơ quan công an, Nguyễn Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.
Vật chứng và tài liệu thu giữ: Số tiền 41.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng thu giữ của Nguyễn Mạnh H chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Hải An quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 11/4/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Mạnh H về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Mạnh H khai nhận: Đến nay tất cả những người liên quan bà Lê Thị H2, bà Bùi Thị N, ông Trịnh Hoàng L, ông Vũ Quang N1 và ông Đỗ Hoàng L1 đều đã trả hết nợ gốc cho bị cáo. Mặt khác, bị cáo H đã chủ động khắc phục hậu quả trả cho những người liên quan là bà Lê Thị H2, bà Bùi Thị N, ông Trịnh Hoàng L toàn bộ số tiền lãi thu không đúng theo quy định của pháp luật, cụ thể trả cho bà H2 số tiền 19.412.328 đồng, trả cho bà N số tiền 19.213.700 đồng, trả cho anh Trịnh Hoàng L số tiền 6.328.767 đồng. Và bà Lê Thị H2, bà Bùi Thị N, ông Trịnh Hoàng L có đơn xác nhận về việc trên. Bị cáo H nhận thức được hành vi cho vay lãi cao của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Khi chấp hành án trừ cho bị cáo 15 ngày cải tạo không giam giữ (do bị cáo đã bị tạm giữ 05 ngày trước đó từ ngày 24/11/2023 đến ngày 29/11/2023). Và phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Hiệu số tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H.
Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp vào Ngân sách Nhà nước khoản tiền dùng để cho vay là 91.000.000 đồng và khoản lãi tương ứng với mức lãi suất 20% theo quy định của pháp luật (là tiền phát sinh từ tội phạm) số tiền là 4.032.876 đồng. Tổng cộng là 95.032.876 đồng; trừ cho bị cáo số tiền 41.000.000 đồng đã tạm giữ. Bị cáo H còn phải nộp tiếp vào ngân sách nhà nước số tiền 54.032.876 đồng.
Về thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải trả lại số tiền 46.507.124 đồng cho 05 người có quyền lợi liên quan đến vụ án số tiền lãi vượt quá theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã trả cho bà Lê Thị H2, bà Bùi Thị N, ông Trịnh Hoàng L, nay buộc bị cáo H phải trả cho ông Vũ Quang N1 số tiền 968.767 đồng và trả cho ông Đỗ Hoàng L1 số tiền 583.562 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Giữ lại số tiền 41.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án; trả lại cho bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số IMEI 359314064479951 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
[1] Điều tra viên Công an quận H, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Mạnh H có tội:
[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh H tại phiên tòa khẳng định: Từ tháng 6/2023 đến ngày 23/11/2023, Nguyễn Mạnh H đã dùng số tiền 91.000.000 đồng để cho 05 người vay nhiều lần dưới hình thức bốc bát họ và vay tín chấp, với lãi suất từ 182,5% đến 730%/năm, thu lợi bất chính số tiền là 46.507.124 đồng.
[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo Nguyễn Mạnh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Bị cáo Nguyễn Mạnh H không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo H đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả tiền thu lợi bất chính cho người vay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo H được áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi thường trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội nên xử phạt bị cáo H với mức hình phạt là cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú và gia đình quản lý là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Bị cáo Nguyễn Mạnh H làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
[8] Đối với số tiền gốc 91.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Mạnh H cho vay, đây là số tiền bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Trừ đi số tiền 41.000.000 đồng (tiền do ông Vũ Quang N1 và ông Đỗ Hoàng L1 trả tiền nợ gốc khi cơ quan công an thu giữ bắt quả tang). Bị cáo H còn phải nộp tiếp vào ngân sách nhà nước số tiền 50.000.000 đồng.
[9] Đối với khoản tiền lãi 20% mà bị cáo H nhận từ những người vay tương đương với số tiền 4.032.876 đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đây là số tiền lãi phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về tiền thu lợi bất chính: Về nguyên tắc, tiền bị cáo thu lợi từ việc phạm tội phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, đối với đặc thù của loại tội phạm này do xuất phát từ giao dịch dân sự, những người vay tiền của bị cáo đều với mục đích phục vụ sinh hoạt, phục vụ cuộc sống hàng ngày, người vay đã phải chịu lãi nặng. Bởi vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người vay cần buộc bị cáo phải trả lại cho người vay số tiền lãi đã thu từ mức lãi suất 182,5% đến 730% với tổng số tiền 46.507.124 đồng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã chủ động trả cho bà Lê Thị H2 số tiền 19.412.328 đồng, bà Bùi Thị N số tiền 19.213.700 đồng, ông Trịnh Hoàng L số tiền 6.328.767 đồng. Do vậy buộc bị cáo H phải trả cho ông Vũ Quang N1 số tiền 968.767 đồng và trả cho ông Đỗ Hoàng L1 số tiền 583.562 đồng.
- Về vật chứng đang tạm giữ:
[11] Đối với số tiền 41.000.000 đồng thu giữ của bị cáo H. Đây là số tiền gốc bị cáo H cho ông Vũ Quang N1 và ông Đỗ Hoàng L1 vay, nên giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[12] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số IMEI 359314064479951. Xét chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
[13] Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Mạnh H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Khi chấp hành án trừ cho bị cáo 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 05 ngày trước đó từ ngày 24/11/2023 đến ngày 29/11/2023. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 15 (Mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận H, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Mạnh H cho Ủy ban nhân dân phường phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Mạnh H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát và giáo dục bị cáo Nguyễn Mạnh H.
Trong trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại các điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H.
- Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H.
- Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp vào Ngân sách Nhà nước khoản tiền gốc dùng để cho vay là 91.000.000 đồng và khoản lãi tương ứng với mức lãi suất 20% là 4.032.876 đồng. Tổng cộng là 95.032.876 (Chín mươi năm triệu, không trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi sáu) đồng; trừ cho bị cáo số tiền 41.000.000 (Bốn mươi mốt triệu) đồng đã tạm giữ (Theo Biên lai thu tiền số 0004808 ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng). Bị cáo H còn phải nộp tiếp vào ngân sách nhà nước số tiền 54.032.876 (Năm mươi tư triệu, không trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi sáu) đồng.
- Về số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải liên đới trả cho người có quyền lợi liên quan đến vụ án, cụ thể:
- Trả cho ông Vũ Quang N1; địa chỉ: Đường H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng số tiền 968.767 (Chín trăm sáu mươi tám nghìn, bảy trăm sáu bảy) đồng.
- Trả cho ông Đỗ Hoàng L1; địa chỉ: Số D đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng số tiền 583.562 (Năm trăm tám mươi ba nghìn, năm trăm sáu mươi hai) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền thu lợi bất chính thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- Giữ lại số tiền 41.000.000 (Bốn mươi mốt triệu) đồng để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số IMEI 359314064479951, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo Nguyễn Mạnh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười năm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H - Cho vay lãi nặng
