Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 28 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Bảy và ông Trần Minh Hiếu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Hiếu-Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Sơn T, sinh ngày 10/8/1999, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Khắc H và bà Sơn Thị Khôi N; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, có mặt.

*Bị hại:

  1. Ông Trần Văn S, sinh ngày 01/01/1964, ngụ ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.
  2. Ông Nguyễn Dũng S1, sinh ngày 01/01/1968, ngụ ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.
  3. Ông Sơn Bé X, sinh ngày 02/9/1994, ngụ ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Hữu Q, sinh năm 1990, ngụ ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
  2. Bà Phan Thị Minh T1, sinh năm 1977, ngụ ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1979, ngụ tại Số H, Tổ A, Khu phố C, phường T thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

*Người làm chứng:

  1. Bà Thạch Thị Huỳnh N1, sinh ngày 22/12/1996, có mặt.
  2. Ông Thạch N2, sinh ngày 01/01/1959, vắng mặt.
  3. Bà Trần Thị N3, sinh ngày 01/01/1970, vắng mặt.
  4. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

  5. Ông Phan Khắc H, sinh năm 1977
  6. Ông Sơn R, sinh năm 1955
  7. Cùng địa chỉ: Ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phan Sơn T là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân, T đã nhiều lần thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn huyện K, để trốn trách trách nhiệm hình sự, khi bị phát hiện, T khai gian dối họ, tên và địa chỉ là Trần Thái B, sinh ngày 01/01/2000, nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Bị cáo Phan Sơn T khai nhận đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vào ngày 08/04/2024, T đi nhờ xe của anh L (không rõ họ, tên địa chỉ), là người làm chung trên tàu đánh cá với T, để tìm mua xe cũ, anh L đồng ý và T đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, anh L chỉ cho T biết chỗ vựa thu mua phế liệu gần ngã ba P có bán xe cũ, rồi anh L điều khiển xe đi. Lúc này, T đi đến chỗ vựa thu mua phế liệu (không rõ tên, địa chỉ) mua chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, đã cũ và không có biển số với giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). T mua xăng đổ vào và điều khiển xe về nhà của Trần Thái B, ở ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, để ngủ (nhà anh B không có ai trông coi).

Đến khoảng 08 giờ ngày 09/04/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, không có biển số, đi tìm người bạn tên H1 ở ấp X, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng chơi, nhưng không tìm được anh H1, nên điều khiển xe chạy ngược về hướng thị trấn K. Trên đường đi đến gần cầu Đ, thuộc ấp A, xã T, thì xe bị hư hỏng, không chạy được, nên T dắt xe đi bộ. Khi đi đến nhà của anh Sơn Bé X, ngụ ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, T nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 83K1-5499 của anh X, của đậu trước hiên nhà, không có người trông coi. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm xe của anh X, nên T mới dẫn xe Wave màu đỏ bỏ ở trước sân nhà anh X, rồi đi vào nhà anh X, lấy trộm chiếc xe của anh X điều khiển chạy đến huyện T, tỉnh Sóc Trăng, T đi tàu cao tốc qua huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và gửi xe ở C. Sau đó, T đi làm thuê theo tàu đánh cá đi ra biển ở C, để đánh bắt cá đến ngày 21/04/2024, T mới vào bờ.

T đi đến chỗ gửi xe trước đó, lấy xe mô tô biển số 83K1-5499 trộm được của anh X, đi về thành phố S chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi T điều khiển chiếc xe này chạy đến chợ B1, thì bị Tổ Tuần tra của Công an phường F, thành phố S kiểm tra, phát hiện Thạch không có giấy tờ tùy thân, không có giấy phép lái xe, không có giấy đăng ký xe, nên Tổ Tuần tra đã mời T về trụ sở cơ quan làm việc. Tại Công an phường F, thành phố S, bị cáo Phan Sơn T tự khai tên là Trần Thái B, sinh ngày 01/01/2000, nơi thường trú: ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và T khai nhận với Công an Phường 6: Chiếc xe biển số 83K1-5499 là do T đã lấy trộm của anh X. Ngày 09/4/2024, Công an F, thành phố S bàn giao Thạch cho Công an xã T, để giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo T đã khai nhận thêm 02 lần thực hiện hành vi trộm tài sản trước đó cụ thể:

- Lần 1: Vào khoảng 13 giờ, ngày 01/4/2024, T ở nhà của anh Trần Thái B, bạn của T (anh B và gia đình anh B vắng mặt, nhà không khóa cửa), T nhìn thấy người bạn tên T2 (không rõ họ, tên, địa chỉ), điều khiển xe mô tô chạy ngang nhà anh B, T kêu anh T2 dừng xe lại và nhờ anh T2 chở đến ấp X, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, để chơi đá gà ăn thua bằng tiền, anh T2 đồng ý. Anh T2 điều khiển xe chở T đến dưới dốc cầu thuộc ấp X, xã T, thì T xuống xe, kêu anh T2 điều khiển xe đi về trước, còn mình đi tìm chỗ đá gà nhưng không tìm thấy. Lúc này, T đi bộ ngược về hướng ấp Đ, xã T để tìm chỗ đá gà tham gia, nhưng không tìm thấy. Khi T đi gần đến cầu H, thuộc ấp Đ, xã T, thì nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 83C1-109.12 của ông Trần Văn S đang đậu cặp lộ đal, sau xe có gắn thùng đựng phế liệu, không có người trông coi, nên T mới nảy sinh ý định trộm xe của ông S, bán lấy tiền tiêu xài. Thạch đi lại chỗ đậu xe, dùng tay bứt dây điện (dây max), tháo gỡ thùng đựng phế liệu, để xuống lộ đal, rồi lên xe đạp máy điều khiển chạy đến thành phố S, tìm chổ để bán lấy tiền tiêu xài, nhưng không bán được. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe của ông S về nhà anh B ngủ. Đến sáng ngày 02/4/2024, Thạch thức dậy và điều khiển xe biển số 83C1-109.12 của ông S, chạy đến thị trấn K, để tìm chỗ bán, nhưng không bán được, nên T tiếp tục điều khiển xe về nhà anh B, ở lại và ngủ tại nhà anh B.

- Lần 2: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 03/4/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 83C1-109.12 trộm được của ông S trước đó, từ nhà của anh B chạy ra hướng ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, với mục đích tìm xe khác có giá trị hơn để lấy trộm. Khi đến dưới dốc cầu A, T điều khiển xe rẽ phải vào đường lộ đal, chạy được khoảng 50 mét, thì nhìn thấy chiếc xe Dream, màu nâu, mang biển số 83F8-5416, của ông Nguyễn Dũng S1, đậu trước cửa nhà, phía sau xe có gắn một cái baga bằng kim loại. Lúc này, T dựng chiếc xe mô tô mang biển số 83C1-109.12 của ông S đậu ở ngoài lộ, rồi đi bộ vào nhà ông S1, T đi lại chỗ chiếc xe Dream và nhìn thấy cái 01 cái vỏ bình gas, loại 13 kg, không rõ nhãn hiệu, để dưới cây cột trước cửa nhà, gần chỗ chiếc xe, nên T dùng hai tay khiêng vỏ bình gas lên để trên baga, điều khiển xe trộm được của ông S1 chạy đi, T để chiếc xe của ông S lại.

T điều khiển xe biển số 83F8-5416 trộm được của ông S1, chạy đến thành phố S bán, nhưng trên đường đi cái võ bình gas bị rơi mất lúc nào T không hay (Cơ quan điều tra không thu hồi được). Khi T chạy xe đến khu vực thuộc Phường G, thành phố S thì chiếc xe trộm của ông S1 bị hư hỏng, tắt máy, nên T xuống xe dắt xe đi bộ, thì bị người dân phát hiện; Do nghi ngờ T trộm xe, nên người dân giữ T lại hỏi, thì T khai nhận chiếc xe biển số 83F8-5416 là do trộm của người khác. Lúc này T sợ bị bắt nên van xin, năn nỉ, người dân tha cho T đi, và chỉ giữ lại chiếc xe biển số 83F8-5416 của ông S1, rồi báo Công an P đến tạm giữ, còn T đi về nhà của anh B ở.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/BB, ngày 24/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận:

  1. Một xe mô tô hiệu SUFAT, màu xanh, biển số 83C1-109.12, mua ngày 04/5/2004, giá trị còn lại theo thực tế tài sản được thu hồi là 20%, thành tiền 3.000.000 đồng.
  2. Một xe mô tô hiệu HALIM màu nâu, biển số 83F8-5416, giá trị còn lại theo thực tế tài sản được thu hồi là 20%, thành tiền 3.000.000 đồng.
  3. Một xe mô tô hiệu YAMAHA, màu trắng-đen, biển số 83K1-5499, xe đăng ký lần đầu ngày 08/9/2009, mua với giá khoảng 18.000.000 đồng, giá trị còn lại theo thực tế tài sản được thu hồi là 20%. thành tiền 2.800.000 đồng

Tổng cộng tài sản: 8.800.000 đồng (Tám triệu, tám trăm ngàn đồng).

Ngày 26/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K có Công văn số 01/CV.ĐGTTHS, về việc từ chối định giá tài sản đối với võ bình gas, loại 13 kg, không rõ nhãn hiệu, do không có cơ sở khảo sát giá, nên không kết luận.

-Tại Bản Cáo trạng số 52/CT-VKS-KS, ngày 08/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để xét xử bị cáo Phan Sơn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và nội dung vụ án giống như Cáo trạng đã nêu, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khi luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

-Tuyên bố bị cáo Phan Sơn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô, màu đỏ, không có biển số, số khung CB110208134649, số máy LC152FMH02234649, xe bị hư hỏng nhiều bộ phận.

-Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị lấy trộm và cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện K, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người tham gia tố tụng sau đây không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ: Bị hại Sơn Bé X; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trần Hữu Q, bà Phan Thị Minh T1 và ông Nguyễn Minh Đ; người làm chứng: Ông Thạch N2, bà Trần Thị N3 và ông Phan Khắc H. Xét thấy, trong quá trình điều tra, những người này có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng, không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 và khoản 3 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Sơn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai trước đây tại Cơ quan Điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Điều tra đã thu thập được, như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Sơ đồ hiện trường.

[4] Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2024 đến ngày 09/4/2024, trên địa bàn các ấp Đ, A, xã T và ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Phan Sơn T đã ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại Sơn Bé X, Trần Văn S và Nguyễn Dũng S1 có tổng giá trị tài sản 8.800.000 đồng, nên bị cáo T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố, là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến tài sản hợp pháp của các bị hại, được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất an ninh trật tự xã hội ở địa phương.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và mỗi lần đều thoả mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo; Tài sản bị trộm cắp đã thu hồi trao trả lại cho chủ sở hữu, xem như bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Sau khi bị Công an F, thành phố S phát hiện đã trộm cắp tài sản, bị cáo đã tự khai nhận 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trước đó, cho nên, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[8] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử phạt tù bị cáo ở mức phù hợp, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời cũng răn đe, phòng ngừa chung.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm và cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10] Về xử lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô, màu đỏ, không có biển số, số khung: CB110208134649, số máy: LC152FMH02234649, xe bị hư hỏng nhiều bộ phận.

[11] Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Đề nghị của Kiểm Sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Sơn T tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1, Điều 173; các điểm r, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phan Sơn Tột) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 4 năm 2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về xử lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo Tột) xe mô tô, màu đỏ, không có biển số, số khung: CB110208134649, số máy: LC152FMH02234649, xe bị hư hỏng nhiều bộ phận.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách;
  • - CAND huyện Kế Sách;
  • - Bị cáo; Bị hại; NCLQ;
  • - Chi cục THADS huyện Kế Sách;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Vinh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger