Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án: 52/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 8 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Quốc Sửu.
  2. Ông Trần Văn Thiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Cảnh, Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/QĐXX-ST ngày 3 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 154/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1982, có mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1977, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án bà Bùi Thị N trình bày: Tôi kết hôn với ông Đặng Văn T ngày 20/11/2006, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh từ đầu năm 2014, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, đến năm 2017 tôi đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, nên vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Tháng 5/2023 tôi về nước và về bên ngoại không về chung sống cùng ông T, hiện tôi đang đi làm công nhân tại khu công nghiệp T. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, tôi giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho tôi và ông T được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đặng Như Q, sinh ngày 16/9/2007 và Đặng Minh Q1, sinh ngày 12/3/2014, hiện hai con chung đang ở cùng tôi, hai cháu đều có nguyện vọng được giao cho tôi nuôi dưỡng, tôi đủ điều kiện nuôi con ăn học và không yêu cầu ông T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Tôi làm công nhân lương tháng khoảng 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng, hiện tôi đã xây nhà xong và có chỗ ở ổn định cho các con. Ông T không có công việc làm cụ thể, không có chỗ ở, nên ông T đề nghị được nuôi dưỡng con chung tôi không nhất trí vì ông T không đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.

Tại bản tự khai ngày 4/7/2023 bị đơn ông Đặng Văn T trình bày: Tôi kết hôn với bà Bùi Thị N ngày 20/11/2006, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh từ khoảng năm 2014, nguyên nhân do bất đồng trong việc làm ăn kinh tế, năm 2017 bà N đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, nên vợ chồng sống ly thân nhau từ đó, khi bà N về nước hai vợ chồng vẫn sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, bà N xin ly hôn tôi nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi và bà N được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đặng Như Q, sinh ngày 16/9/2007 và Đặng Minh Q1, sinh ngày 12/3/2014, hiện hai con chung đang do bà N nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn tôi mong muốn được nuôi dưỡng cháu Đặng Minh Q1, bà N nuôi dưỡng cháu Đặng Như Q, không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 3/8/2023 cháu Đặng Như Q và cháu Đặng Minh Q1 đều trình bày: Các cháu là con của bố Đặng Văn T và mẹ Bùi Thị N, các cháu đều trình bày khi bố mẹ không chung sống cùng nhau thì các cháu đều đề nghị được ở với mẹ, nếu được mẹ nuôi dưỡng sẽ được chăm sóc đảm bảo hơn.

Tại phiên toà bà Bùi Thị N vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà và ông Đặng Văn T được ly hôn, bà đề nghị được nuôi dưỡng cháu Q và cháu Q1, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản và công nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông Đặng Văn T vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diệnViện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn bà Bùi Thị N thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định, bị đơn ông Đặng Văn T không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Đặng Văn T.

Về con chung: Giao bà Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đặng Như Q, sinh ngày 16/9/2007 và Đặng Minh Q1, sinh ngày 12/3/2014, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Bùi Thị N phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình giữa bà Bùi Thị N có địa chỉ tại thôn T, xã Q, huyện T và ông Đặng Văn T có địa chỉ thôn N, xã N, huyện T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn bà Bùi Thị N, bị đơn ông Đặng Văn T và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:

Bà Bùi Thị N kết hôn với ông Đặng Văn T ngày 20/11/2006 trên cơ sở hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, vợ chồng tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm ban đầu hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng: Bà Bùi Thị N và ông Đặng Văn T xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2014, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, năm 2017 bà N đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì vợ chồng đã sống ly thân, tháng 5/2023 bà N về nước nhưng không về chung sống cùng ông T, nên cả bà N và ông T đều xác định không còn tình cảm vợ chồng. Do vậy bà N xin được ly hôn ông T nhất trí.

Căn cứ vào lời khai của bà N và ông T, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy tình trạng hôn nhân của bà N và ông T đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân một thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, bà N và ông T cùng nhất trí thuận tình ly hôn, tuy nhiên ông T vắng mặt tại phiên tòa do vậy cần xử cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Đặng Văn T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà Bùi Thị N và ông Đặng Văn T có hai con chung là Đặng Như Q, sinh ngày 16/9/2007 và Đặng Minh Q1, sinh ngày 12/3/2014, bà N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung, ông T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Q1 và bà N nuôi dưỡng cháu Q. Bà N, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết cháu Q và cháu Q1 đều trình bày có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu được giao cho bà N nuôi dưỡng. Tại phiên tòa bà N nhất trí với ý kiến theo sự nguyện vọng của hai con và đề nghị Tòa án giao cháu Q và cháu Q1 cho bà nuôi dưỡng.

Xét thấy cháu Đặng Như Q và cháu Đặng Minh Q1 đã trên 07 tuổi và chưa đến 18 tuổi, các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Qua xác minh tại xã N, huyện T ông T làm nghề tự do không xác định được thu nhập, không có nhà hiện đang ở nhờ nhà anh trai. Xác minh tại xã Q, huyện T bà N hiện là công nhân khu công nghiệp T, mức thu nhập từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng, hiện bà N được gia đình cho đất và đang xây nhà ở thôn T, xã Q, hai con chung hiện đang do bà N nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con trẻ trong việc giao trực tiếp người nuôi dưỡng, đảm bảo cho việc ăn, ở ổn định và điều kiện chăm sóc, nhận thấy cần giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Như Q và cháu Đặng Minh Q1 là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu ông T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Bà Bùi Thị N và ông Đặng Văn T đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà Bùi Thị N nhận chịu án phí theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Đặng Văn T.

[2] Về con chung: Giao bà Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Đặng Như Q, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Đặng Minh Q1, sinh ngày 12/3/2014, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra xem xét giải quyết.

Ông Đặng Văn T có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của ông T.

[3] Về tài sản; công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà N đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí; lệ phí Tòa án số: 0004976 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - UBND xã Ngọc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 52/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị N và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nên chị N đề nghị xin được ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger