TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2024
V/v: “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Phương Hạnh
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 212/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Tuyết P, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
+ Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị Tuyết P trình bày:
Bà P và ông Nguyễn Thanh H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004 và đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B ngày 11/3/2004.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau êm đềm, hạnh phúc. Tuy có nhiều mâu thuẫn nhưng rồi cũng hàn gắn để cùng chăm sóc, nuôi dạy con. Từ tháng 3/2024, mâu thuẫn giữa ông bà trở nên trầm trọng, nguyên nhân xuất phát từ việc con gái của ông bà mang thai và sinh con nhưng chưa cưới hỏi, dẫn tới gia đình xào xáo. Ông H bà P đã sống ly thân từ tháng 3/2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà Ngô Thị Tuyết P và ông Nguyễn Thanh H có 02 con chung là Nguyễn Nhựt Phương A, sinh ngày 15/03/2005 và Nguyễn Nam C, sinh ngày 06/6/2008.
Cháu Nguyễn Nhựt Phương A đã trưởng thành. Theo nguyện vọng của con, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nam C đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà P xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà P khẳng định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt.
[2]. Quá trình hòa giải và tại Đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày:
Ông H khai về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giống như bà P đã trình bày. Ông H cho rằng, giữa vợ chồng ông có xảy ra cãi vã, nguyên nhân xuất phát từ việc con gái mang thai và sinh con nhưng chưa cưới hỏi gì, vì việc này, gia đình ông H có vào nhà gây gổ với bà P, từ đó, bà P mới yêu cầu ly hôn. Ông H xác nhận, hiện vợ chồng vẫn chung sống trong một nhà, nhưng không quan tâm đến nhau, hầu như không nói chuyện với nhau. Tuy nhiên, ông H không đồng ý ly hôn. Trường hợp bà P vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn thì Tòa án cứ giải quyết theo yêu cầu của bà P.
Vì lý do công việc ông H không đến Tòa tham gia phiên xét xử hơn nữa ông cho rằng không thể hàn gắn nên không cần Tòa án hòa giải. Ông H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Về con chung: Bà Ngô Thị Tuyết P và ông Nguyễn Thanh H có 02 con chung là Nguyễn Nhựt Phương A, sinh ngày 15/03/2005 và Nguyễn Nam C, sinh ngày 06/6/2008.
Cháu Nguyễn Nhựt Phương A đã trưởng thành. Theo nguyện vọng của con, ông H đồng ý giao cháu Nguyễn Nam C cho bà P chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông H không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thẩm phán xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng theo quy định từ các Điều 93 đến Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành tốt các quy định tại Điều 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Từ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà P đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà P về việc ly hôn với ông H; về con chung: Giao con chung Nguyễn Nam C cho bà P nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu; về án phí: Bà P phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Ngô Thị Tuyết P có đơn xin ly hôn, ông Nguyễn Thanh H có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại: Ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nên tranh chấp nói trên được xác định là Tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Ngô Thị Tuyết P và ông Nguyễn Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà P, ông H theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân:
Ông H, bà P có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/2024, tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do bà P xuất trình nên hôn nhân của ông H, bà P là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của ông H, bà P là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật.
Theo bà P, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau êm đềm, hạnh phúc, nhưng từ tháng 3/2024, giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân xuất phát từ việc con gái của ông bà mang thai và sinh con nhưng chưa cưới hỏi, dẫn tới gia đình xào xáo. Ông H bà P đã sống ly thân từ tháng 3/2024 cho đến nay. Tòa án cũng đã nhiều lần vận động hòa giải nhưng bà P vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Ông H xác nhận mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đúng như bà P trình bày. Ông H và bà P tuy vẫn chung sống trong một nhà, nhưng không quan tâm đến nhau, hầu như không nói chuyện với nhau. Ông H không đồng ý ly hôn. Trường hợp bà P vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn thì Tòa án cứ giải quyết theo yêu cầu của bà P.
Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bà P là có căn cứ, mâu thuẫn giữa bà P và ông H là có thật và trầm trọng, dẫn tới cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử chấp nhận yêu cầu của bà P về việc ly hôn với ông H.
[3]. Về con chung: Quá trình chung sống bà P và ông H có 02 con chung là Nguyễn Nhựt Phương A, sinh ngày 15/03/2005 và Nguyễn Nam C, sinh ngày 06/6/2008. Cháu Nguyễn Nhựt Phương A đã trưởng thành nên không giải quyết. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nam C đến tuổi trưởng thành. Tại Bản tự khai, cháu C cũng có nguyện vọng được chung sống với mẹ đến tuổi trưởng thành. Ông H đồng ý giao cháu C cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, theo nguyện vọng của cháu C và để đảm bảo cho cháu C có cuộc sống ổn định, cần chấp nhận yêu cầu của bà P về việc nuôi con chung, giao cháu Nguyễn Nam C, sinh ngày 06/6/2008 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Việc bà P không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên cần công nhận.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà P, ông H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Bà P phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Tuyết P:
- [1.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Tuyết P được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
- [1.2] Về con chung: Bà Ngô Thị Tuyết P và ông Nguyễn Thanh H có 02 con chung là Nguyễn Nhựt Phương A, sinh ngày 15/03/2005 và Nguyễn Nam C, sinh ngày 06/6/2008. Cháu Nguyễn Nhựt Phương A đã trưởng thành nên không giải quyết. Theo nguyện vọng của cháu C, bà Ngô Thị Tuyết P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Nam C, sinh ngày 06/6/2008 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Công nhận sự tự nguyện của bà P về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- [1.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Tuyết P và ông Nguyễn Thanh H không yêu cầu nên không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Ngô Thị Tuyết P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001418 ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà P đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án, các đương sự có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Sơn |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ngô Thị Tuyết P yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh H, và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nam C
