Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/KDTM-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2024
V/v:Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

2. Bà Lương Thị Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa.

Bà Bùi Mai Phương– Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 151/2023/TL – KDTMST ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QÐST - KDTM ngày 19 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QÐST- HPT ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (P1). Mã số doanh nghiệp: 0101057919 do Sở K cấp, đăng ký lần đầu ngày 01/10/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 13/10/2014. Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Việt H – Chức vụ: Phó Giám đốc Khối Quản lý và tái cấu trúc tài sản theo Giấy ủy quyền số 10771/UQ - PVB ngày 10/6/2020 và Giấy ủy quyền số 2257/UQ - PVB ngày 06/02/2023.

Người được ủy quyền lại: Ông Trần Minh N, ông Nguyễn Hoàng A, ông Trần Hùng P; bà Trần Thị N1 theo Giấy ủy quyền số 10587/UQ-PVB ngày 23/5/2023 của Giám đốc Khối Quản lý và tái cấu trúc tài sản P1. Bà N1 có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Tổng Công ty P1 (SBIC). Địa chỉ: Số A N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H1 - Chức vụ: Quyền Tổng Giám đốc theo Quyết định số 28/QĐ-CNT ngày 18/01/2024. Người đại diện theo ủy quyền: bà Vũ Thị Kim O theo Giấy ủy quyền số 331/GUQ-CNT ngày 02/4/2024 và Nguyễn Thị Ánh N2 theo Giấy ủy quyền số 356/GUQ-CNT ngày 05/4/2024. Bà Nguyệt có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty T1. Địa chỉ: Số A H, Phường H, Quận H, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Hoài G – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hà Minh H2, bà Trần Thị Y, bà Nguyễn Thị T theo Uỷ quyền số 01/UQ-TCTT ngày 02/01/2023. Bà T, bà Y có mặt tại phiên tòa.

- Công ty Cổ phần C (SSI). Địa chỉ: G N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Duy H3 – chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Khắc H4 – chức vụ: Giám đốc khối Luật và kiểm soát tuân thủ theo Giấy uỷ quyền số 10/2023/UQ-SSI ngày 25/12/2023. Ông H4 có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Đ do người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị N1 trình bày:

Ngày 19/9/2007, Công ty T2 (viết tắt là P2, nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - P1) và Công ty T1 (nay là Công ty T1, sau đây viết tắt là “VFC”) ký kết Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC nội dung như sau:

Tên trái phiếu: Trái phiếu Tập đoàn C1; Tên viết tắt: V; Tổ chức phát hành: Tập đoàn C1; Mệnh giá mua: 50.000.000.0xxx (Năm mươi tỷ đồng chẵn); Kỳ hạn trái phiếu: 10 năm kể từ ngày phát hành; Lãi suất trái phiếu: 9,4%/năm. Phương thức trả lãi: trả lãi sau hàng năm, định kỳ 1 năm một lần bắt đầu sau 1 năm kể từ ngày phát hành trái phiếu; Hình thức trái phiếu: trái phiếu ghi sổ; Ngày phát hành: 20/09/2007; Ngày thanh toán gốc: 20/09/2017; Thanh toán gốc: Tiền gốc Trái phiếu được trả một lần khi đến hạn đúng bằng mệnh giá trái phiếu; Các điều khoản khác: Trái phiếu không được thanh toán trước hạn. V1 không có nghĩa vụ mua lại, không nhận cầm cố trái phiếu theo đề nghị của chủ sở hữu và không mua lại trên thị trường thứ cấp. Trái phiếu được chuyển quyền sở hữu dưới các hình thức mua, bán, cho, tặng, trao đổi. Trái phiếu được sử dụng làm tài sản cầm cố vay vốn tại các tổ chức tín dụng (nếu được chấp nhận). Tổ chức lưu ký, trung gian chuyển nhượng, đại lý thanh toán trái phiếu: Công ty Cổ phần C (“Tổ chức lưu ký, trung gian chuyển nhượng, đại lý thanh toán").

Thực hiện Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC, P1 đã thực hiện chuyển khoản cho VFC theo giấy ủy nhiệm chi chuyển tiền mua trái phiếu ngày 20/09/2007 với tổng số tiền là: 50.000.000.000 (Năm mươi tỷ đồng chẵn).

Ngày 21/9/2007, Tập đoàn C1 (Nay là Tổng Công ty P1, viết tắt là SBIC) (“Tổ chức phát hành”) và Công ty Cổ phần C đã ký kết Hợp đồng Lưu ký, Trung gian chuyển nhượng và đại lý thanh toán trái phiếu Tập đoàn Công nghiệp C1 số 124/2007/CF/SSIHO. Theo đó, ngày 21/09/2007, Công ty Cổ phần C đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu số VNASHINBOND0207-027 với số tiền 50.000.000.000 đồng tương đương 500.000 trái phiếu của P1.

Quá trình thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán trái phiếu và theo Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu, Hợp đồng Lưu ký, Trung gian chuyển nhượng và đại lý thanh toán trái phiếu Tập đoàn Công nghiệp C1 số 124/2007/CF/SSIHO, Công ty Cổ phần C là trung gian thanh toán, đã thực hiện thanh toán được cho P1 số tiền cụ thể như sau: Số tiền gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 9.400.000.000 đồng. Tổng cộng là: 9.400.000.000 đồng.

Vi phạm của SBIC:

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán trái phiếu và theo Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu, SBIC đã vi phạm thỏa thuận về thanh toán tiền gốc và lãi quy định tại Điều 7 của Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC.

Ngày 08/11/2010, Công ty Cổ phần C đã gửi văn bản số 404/2010/CV-SSIHN về việc gia hạn trả lãi VNASHINBOND0207-027 lần thứ 2 với các nội dung sau: Tập đoàn C1 đã có công văn số 3256.1/CNT-TCKT ngày 26/10/2010 về việc đề nghị các trái chủ chấp thuận việc gia hạn thanh toán lần thứ 2 đến ngày 20/11/2010 và đề nghị không áp dụng mức lãi phạt trả chậm cho khoản lãi VNASHINBOND0207-027 năm thứ 3. Tuy nhiên, đến ngày 20/11/2010, Tập đoàn C1 đã không thanh toán được các khoản lãi cho P1 theo đề nghị và theo Quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu số VNASHINBOND0207-027.

Như vậy, kể từ khi phát hành Trái phiếu đến nay, SBIC mới chỉ thanh toán được 02 kỳ trả lãi (kỳ trả lãi vào ngày 20/09/2008 và 20/09/2009) với tổng số tiền lãi là 9.400.000.000 đồng, bắt đầu quá hạn thanh toán lãi kể từ kỳ thanh toán ngày 20/09/2010 và quá hạn thanh toán gốc từ ngày 20/09/2017.

Ngày 22/10/2023, P1 đã gửi thông báo đến SBIC về việc sẽ tiến hành khởi kiện theo đúng quy định pháp luật nếu SBIC không thực hiện thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi theo Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu số VNASHINBOND0207-027 cho P1. Nhưng đến nay SBIC vẫn vi phạm thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi theo Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu số VNASHINBOND0207-027 cho P1.

Ngày 27/4/2022, P1 và SBIC đã làm việc về hướng xử lý các khoản nợ và nghĩa vụ liên quan của S tại P1. Theo đó, S đã xác nhận nghĩa vụ nợ gốc lãi đối với khoản trái phiếu nêu trên tạm tính đến ngày 31/03/2022 là 109.180.830.000 đồng (trong đó, nợ gốc là 50.000.000.000 đồng; nợ lãi là 59.180.830.000 đồng).

Căn cứ Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015 về Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:

“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Căn cứ Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 về Lãi suất:

“5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

  • Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
  • Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trong vụ án này, P1 có quyền yêu cầu S phải thanh toán khoản nợ lãi quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với khoản nợ Trái phiếu của SBIC bằng150%/năm lãi suất Trái phiếu thỏa thuận tương ứng với thời gian chậm trả.

Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi đối với số tiền lãi chậm thanh toán là 9,4%/năm từ khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Nay nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc SBIC phải trả toàn bộ số tiền vay (gốc và lãi) tạm tính đến hết ngày 25/4/2024 cho P1 là: Nợ gốc: 50.000.0000.000 đồng; Nợ lãi: 68.646.111.111 đồng. Tổng cộng: 118.646.111.111 đồng theo Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007.

Buộc SBIC phải trả cho P1 các khoản nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007 kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nghĩa vụ của Trái phiếu VINASHINBOND0207-027.

Về án phí kinh doanh thương mại: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.

* Bị đơn: Tổng Công ty P1. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ánh N2 trình bày:

1. Về thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại Hợp đồng mua bán trái phiếu, kỳ hạn trái phiếu là 10 năm kể từ ngày phát hành (ngày 20/9/2007), tức ngày trái phiếu đáo hạn là 20/9/2017. Hiện tại, không có tài liệu nào thể hiện sau khi trái phiếu đến hạn thanh toán, P1 và SBIC có sự đối chiếu nợ gốc, lãi trái phiếu VINASHINBOND 0207.

Tại Đơn khởi kiện, P1 cho rằng: “Ngày 27/4/2022, P1 và SBIC đã làm việc về hướng xử lý các khoản nợ và nghĩa vụ liên quan của S tại P1. Theo đó, S đã xác nhận nghĩa vụ nợ gốc lãi đối với khoản trái phiếu nêu trên tạm tính đến ngày 31/3/2022 là 109.180.830.000 đồng”. Điều này là hoàn toàn không đúng vì Biên bản làm việc ngày 27/4/2022 không có nội dung xác nhận nghĩa vụ nợ gốc, lãi của SBIC đối với trái phiếu VINASHINBOND 0207.

Điều 150 khoản 3 Bộ luật dân sự 2015: Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Điều 429 Bộ luật dân sự 2015: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Điều 155 Bộ luật dân sự 2015: Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu.

Như vậy, ngày 30/5/2023, P1 có đơn khởi kiện gửi Tòa án quận Ba Đình yêu cầu giải quyết buộc SBIC trả tiền gốc, lãi trái phiếu VINASHINBOND 0207 là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định pháp luật.

2. Về yêu cầu trả tiền lãi quá hạn của P1:

Ngày 19/9/2007, Công ty T1 (VFC) và Công ty T2 (nay là P1) ký Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC để mua bán 500.000 Trái phiếu Vinashin (tên viết tắt VINASHINBOND 0207) với mệnh giá100.000 đồng/ trái phiếu. Trái phiếu này có kỳ hạn 10 năm kể từ ngày phát hành (ngày 20/9/2007); lãi suất 9,4%/ năm, được trả định kỳ 1 năm một lần, ngày trả lãi đầu tiên là 20/9/2008.

Giấy chứng nhận đăng ký số VINASHINBOND0207-027 ngày 21/9/2007 do SSI đại diện V1 xác nhận cho P1 thể hiện: Trái phiếu chịu sự điều chỉnh của Hợp đồng và các Điều kiện và Điều khoản được quy định trong hợp đồng và mặt sau của giấy chứng nhận đăng ký này. Trong khi đó, Hợp đồng mua bán trái phiếu, Bản công bố thông tin trái phiếu V1 đợt II-2007 đều không quy định lãi chậm trả trong trường hợp trái phiếu thanh toán quá hạn. Đồng thời, mặt sau Giấy chứng nhận quy định: “Trái phiếu thanh toán sau hạn không được cộng thêm lãi của những ngày sau hạn".

Điều 4 Bộ luật dân sự 2005 về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận quy định: Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.

Như vậy, theo quy định pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký, thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng mua bán trái phiếu, Bản công bố thông tin trái phiếu Vinashin đợt V1- 2007 và tình hình trả lãi trong hạn trái phiếu của SBIC, việc P1 yêu cầu SBIC trả lãi số tiền 64.011.388.889 đồng được hiểu bao gồm lãi quá hạn là không có cơ sở.

Tại phiên tòa PVcomBaknk yêu cầu tính lãi chậm thanh toán là 14,1%/năm là vượt quá yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, P1 đã rút yêu cầu và giữ nguyên yêu cầu tính lãi chậm thanh toán là 9,4%/năm bằng với lãi suất trong hạn trong đơn khởi kiện ban đầu, SBIC đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật.

Từ những căn cứ trên đây, SBIC không đồng ý yêu cầu khởi kiện của P1 buộc SBIC trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn của trái phiếu VINASHINBOND 0207 và đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn do đã hết thời hiệu khởi kiện.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty T1. Người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị Y và bà Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 11/06/2007, Tập đoàn C1 (nay là Tổng công ty P1 sau đây gọi tắt là Tổng công tP1) và VFC đã ký Hợp đồng tư vấn phát hành trái phiếu số 110607/TVTP/VNS-VFC về việc Tổng công ty giao và VFC nhận tiến hành lập hồ sơ phát hành Trái phiếu Tập đoàn C1 đợt II năm 2007. Theo đó, VFC thực hiện các nội dung:

  • Xúc tiến việc thăm dò nhu cầu thị trường về lãi suất trái phiếu, kỳ hạn trái phiếu và mức độ hấp dẫn của thị trường trái phiếu tại thời điểm dự kiến phát hành.
  • Lập phương án phát hành và hồ sơ phương án phát hành Trái phiếu đợt II năm 2007 huy động vốn cho các dự án phát triển đội tàu vận tải biển của Tập đoàn C1:
    • + Tên trái phiếu: Trái phiếu Tập đoàn C1. Thời hạn từ 7-10 năm. Khối lượng vốn cần huy động: 3.000 tỷ đồng Việt Nam. Phương thức phát hành: đại lý phát hành hoặc đại lý kết hợp với bảo lãnh phát hành tùy từng trường hợp. Thời hạn dự kiến phát hành Trái phiếu: tháng 09/2007.
  • Tiến hành làm các thủ tục xin phép Bộ T3 phát hành Trái phiếu theo đúng quy định hiện hành.

Ngày 15/08/2007, Tổng công ty, và Công ty Cổ phần C (SSI) cùng ký Hợp đồng tư vấn và phát hành trái phiếu số 01/2007/TVPH/VNS/VFC-SSI và Phụ lục hợp đồng tư vấn phát hành trái phiếu số 01/2007/TVPH/VNS/VFC-SSI ngày 14/09/2007 về việc thỏa thuận ký kết Hợp đồng tư vấn phát hành trái phiếu Tập đoàn C1 với các điều khoản cụ thể:

Điều 1: Nội dung công việc:

Theo Hợp đồng này, VFC và SSI thực hiện dịch vụ tư vấn và Đ1 trái phiếu doanh nghiệp cho Tổng công ty theo thông lệ và tuân theo Nghị định số 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, với các công việc cụ thể sau: Xây dựng, cập nhật bản công bố thông tin (Offering Circular); Tư vấn lựa chọn và làm việc với các nhà đầu tư tham gia mua Trái phiếu và phân phát bản công bố thông tin cho các nhà đầu tư; Nhận phản hồi từ các nhà đầu tư để dựng sổ (book-building) trái phiếu; Dựng sổ trái phiếu; Trình Tổng công ty phê duyệt lãi suất và khối lượng phát hành; Đóng sổ trái phiếu, thực hiện bán trái phiếu; Tổng kết đợt phát hành, thu tiền từ các nhà đầu tư và chuyển tiền vào tài khoản của Tổng công ty; Tổng công ty, cho SSI là tổ chức lưu ký trái phiếu, trung gian chuyển nhượng và đại lý thành toán trái phiếu cho Tổng công ty; Các hoạt động nghiệp vụ khác có liên quan đến đợt phát hành theo sự thỏa thuận của các bên, công khai, minh bạch, đảm bảo phù hợp với thị trường và các quy định hiện hành.

Tổng công ty giao cho VFC và SSI thay mặt cho Tổng công ty tổ chức phát hành ký kết các hợp đồng mua bán trái phiếu với các nhà đầu tư, cụ thể như sau: Khối lượng trái phiếu VFC ký kết hợp đồng: tối đa 2.640 tỷ đồng. Khối lượng trái phiếu SSI ký kết hợp đồng: tối đa 360 tỷ đồng.

Điều 2. Trái phiếu phát hành, phí tư vấn phát hành và phương thức thanh toán:

1. Trái phiếu phát hành

- Tên trái phiếu: Trái phiếu Tập đoàn C1 0207. Tổng giá trị của đợt phát hành trái phiếu tối đa là 3.000 tỷ đồng (Ba nghìn tỷ đồng chẵn). Thời hạn trái phiếu:10 năm. Thời gian phát hành dự kiến: tháng 09/2007. Ngày phát hành trái phiếu do Tổng công ty quyết định và thông báo cho VFC và SSI

2. Phí tư vấn phát hành: Tổng phí tư vấn phát hành là 0.75% x Tổng giá trị thực tế của đợt phát hành. Mức phí trên bao gồm các khoản thuế, lệ phí... theo quy định của pháp luật. Mức phí này bao gồm: Phí lưu ký, trung gian chuyển nhượng và đại lý thanh toán trái phiếu.(Tổng công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp với SSI về việc lưu ký, chuyển nhượng, thanh toán trái phiếu). Chi phí công bố thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Chi phí tổ chức hội thảo, roadshow. Chi phí in ấn...Ngay sau khi kết thúc đợt phát hành, VFC và SSI thông báo cho Tổng công tP1 danh sách các trái chủ và khối lượng mua.

3. Thời hạn và phương thức thanh toán: Phí tư vấn sẽ được khấu trừ trực tiếp từ tổng số tiền huy động được của đợt phát hành trước khi chuyển cho Tổng công ty. SSI ủy quyền cho VFC nhận toàn bộ số tiền phí tư vấn phát hành do Tổng công ty P1.

- Thời hạn thanh toán tiền mua trái phiếu: các nhà đầu tư chuyển tiền mua trái phiếu chậm nhất vào ngày phát hành về tài khoản của VFC như sau: Tên tài khoản: Công ty T1. Số TK: 12010000176853. Tại: Sở GD I Ngân hàng Đ2.

4. VFC và SSI xuất cho Tổng công ty hóa đơn tài chính phí tư vấn phát hành của mỗi bên dựa trên biên bản quyết toán phí tư vấn giữa VFC và S1 ngay sau khi kết thúc đợt phát hành. VFC có trách nhiệm chuyển cho SSI số tiền tư vấn phát hành SSI được hưởng ngay khi nhận được thông báo của V1 về việc SSI đã xuất hóa đơn tài chính.

Ngày 19/9/2007, VFC và Công ty T2 (nay là P1) đã ký Hợp đồng mua bán số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC, theo Hợp đồng này, VFC đồng ý bán, P1 đồng ý mua, Trái phiếu Tâp đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam theo các điều khoản và điều kiện như sau:

Tên Trái phiếu: Trái phiếu Tập đoàn C1. Tên viết tắt: VINASHINBOND 0207. Tổ chức phát hành: Tập đoàn C1. Mệnh giá mua: 50.000.000.000 đ ( Năm mươi tỷ đồng Việt Nam). Kỳ hạn trái phiếu: 10 năm kể từ ngày phát hành. Lãi suất trái phiếu: 9,4%/năm. Phương thức trả lãi: trả lãi sau hàng năm, định kỳ 1 năm một lần bắt đầu sau 1 năm kể từ ngày phát hành trái phiếu. Hình thức trái phiếu: Trái phiếu ghi sổ. Ngày phát hành: 20/09/2007. Ngày thanh toán gốc: 20/09/2017. Thanh toán gốc: Tiền gốc Trái phiếu được trả một lần khi đến hạn đúng bằng mệnh giá trái phiếu. Các điều khoản khác: Trái phiếu không được thanh toán trước hạn. V1 không có nghĩa vụ mua lại, không nhận cầm cố trái phiếu theo đề nghị của chủ sở hữu và không mua lại trên thị trường thứ cấp. Trái phiếu được chuyển quyền sở hữu dưới các hình thức mua, bán, cho, tặng, trao đổi. Trái phiếu được sử dụng làm tài sản cầm cố vay vốn tại các tổ chức tín dụng (nếu được chấp thuận). Tổ chức lưu ký, trung gian chuyển nhượng, đại lý thanh toán trái phiếu: Công ty Cổ phần C (SSI). Các điều khoản và điều kiện khác của Trái phiếu được quy định tại Bản công bố thông tin trái phiếu VINASHINBOND đợt II năm 2007 ngày 06/09/2007.

Thực hiện hợp đồng này, ngày 20/09/2007, P1 đã chuyển tiền mua trái phiếu vào tài khoản chỉ định của VFC số tiền 50 tỷ đồng Việt Nam và VFC cũng đã thực hiện bàn giao 500.000 trái phiếu cho P1 theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng này.

Ngày 21/09/2007, Tổng công ty, VFC và SSI đã ký Biên bản thanh lý Hợp đồng tư vấn phát hành trái phiếu số 01/2007/TVPH/VNS/VFC-SSI, Tổng công ty, cũng ký Biên bản thanh lý Hợp đồng tư vấn phát hành trái phiếu số 110607/TVTP/VNS-VFC, theo đó Tổng công ty xác nhận VFC đã hoàn thành các nội dung công việc trong các Hợp đồng này và được nhận Phí tư vấn phát hành tương ứng.

Liên quan đến Trái phiếu VINASHIN BOND 0207, VFC là đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn phát hành Trái phiếu cho Tổng công ty, thay mặt cho Tổng công ty tổ chức phát hành, ký kết hợp đồng mua bán Trái phiếu với P1 và bàn giao đủ 500.000 trái phiếu VINASHIN BOND 0207 cho P1. VFC đã thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mình với Tổng công ty P1 như đã trình bày ở trên.

Công ty Cổ phần C. Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Khắc H4 trình bày:

Công ty Cổ phần C, địa chỉ 180 – A N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã đổi tên là Công ty Cổ phần S1 và thay đổi địa chỉ trụ sở G N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 276/QĐ-UBCK V/v chấp thuận thay đổi địa chỉ trụ sở chính Công ty Cổ phần C ngày 25/4/2007 và Giấy phép điều chỉnh Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán số 104/GPĐC-UBCK ngày 17/12/2018 của Chủ tịch Ủy ban C2. Các nội dung đăng ký kinh doanh hiện nay của Công ty được thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0301955155 của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp cho Công ty.

Về ý kiến của Công ty đối với nội dung đơn khởi kiện đề ngày 30/05/2023 của nguyên đơn là Ngân Hàng TMCP Đ (P1), chúng tôi hiểu rằng đây là tranh chấp kinh doanh thương mại giữa nguyên đơn và bị đơn là Tổng Công Ty P1 (SBIC), đồng thời nguyên đơn không có yêu cầu gì đối với SSI. Do đó, SSI không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày 05 tháng 4 năm 2024, bị đơn có đơn xin hoãn phiên tòa, Tòa án đã hoãn phiên tòa. Phiên tòa được mở lại vào ngày 25/4/2024 theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 476 Bộ luật dân sự 2005; Điều 157, Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 306, Điều 319 Bộ luật thương mại: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc SBIC trả cho P1 số tiền tạm tính đến ngày 25/4/2024 là: Nợ gốc: 50.000.0000.000 đồng; Nợ lãi: 68.646.111.111 đồng. Tổng cộng: 118.646.111.111 đồng theo Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007.

Buộc SBIC phải trả cho P1 các khoản nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007 kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nghĩa vụ theo Trái phiếu VINASHINBOND0207-027.

Việc nguyên đơn đề nghị tính lãi chậm thanh toán là 9,4%/năm bằng với lãi suất trong hạn là tự nguyện không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án tranh chấp phát sinh giữa P1 và SBIC liên quan đến Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007. Tại Điều 11.2 của hợp đồng quy định: “Mọi tranh chấp nếu có liên quan đến việc thực hiện Hợp đồng sẽ được hai bên phối hợp thương lượng giải quyết. Trường hợp không giải quyết được bằng thương lượng, hòa giải thì sẽ đưa các tranh chấp ra Tòa án kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để giải quyết. Phán quyết của tòa án là cuối cùng bắt buộc các bên thi hành”. Thỏa thuận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các bên trong hợp đồng là không đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nên theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Do vậy, xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tổng Công ty P1 có đăng ký kinh doanh và có trụ sở tại số A N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Do Tổng Công ty P1 không thanh toán được khoản nợ cho P1 khi đến hạn trả nợ. Do vậy, P1 đã khởi kiện Tổng Công ty P1 đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, đề nghị Tòa án giải quyết buộc Tổng Công ty P1 phải thanh toán trả P1 toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không có căn cứ để xem xét.

Trong vụ án này: Hợp đồng mua bán trái phiếu; Giao dịch dân sự giữa các đương sự được thực hiện trước khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, vì vậy vụ án được áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết đúng với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về thời hiệu khởi kiện:

Đối với ý kiến của SBIC về việc áp dụng thời hiệu giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử nhận thấy, tranh chấp giữa các bên là tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007 nên luật áp dụng phải là Luật chứng khoán năm 2006. Theo đó, Luật chứng khoán quy định về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Tại khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 quy định: “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành”. Tuy nhiên, Luật chứng khoán không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về giao dịch, kinh doanh không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán. Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Bộ luật dân sự 2015: Trường hợp luật khác có liên quan không quy định thì quy định của Bộ luật này được áp dụng. Do Luật chứng khoán 2006 không quy định về thời hiệu khởi kiện liên quan đến tranh chấp phát sinh từ các hoạt động giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán nên cần áp dụng quy định về thời hiệu của Bộ luật dân sự. Theo đó tại thời điểm giải quyết vụ án, thời hiệu khởi kiện vụ án về tranh chấp hợp đồng là 03 năm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự 2015.

Tại biên bản làm việc ngày 27/4/2022, P1 và SBIC đã làm việc về hướng xử lý các khoản nợ và nghĩa vụ liên quan của S tại P1. Theo đó, S đã xác nhận nghĩa vụ nợ gốc lãi đối với khoản trái phiếu nêu trên tạm tính đến ngày 31/3/2022 là 109.180.830.000 đồng.

Mặt khác, ngày 11/7/2022, SBIC đã nhận được thông báo nghĩa vụ nợ số 12348/PVB-QL&TCTTS ngày 07/7/2022 và biết nghĩa vụ nợ của mình tại P1 nhưng không có ý kiến phản đối được hiểu là đồng ý. Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại trong trường hợp “Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện”. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì thời hiệu khởi kiện của vụ án này được bắt đầu lại kể từ thời điểm ngày 11/7/2022. Do đó, tháng 12/2023 P1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu buộc SBIC phải thực hiện thanh toán toàn bộ nghĩa vụ gốc, lãi theo đúng quy định của pháp luật tại Tòa án là còn thời hiệu khởi kiện

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về số tiền nợ gốc:

Xét việc ký kết Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007 giữa Công ty T2 (viết tắt là P2, nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ) và Công ty T1 (nay là Công ty T1) là tự nguyện, phù hợp quy định của Luật chứng khoán, Bộ luật dân sự và được các bên thừa nhận. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Ngày 21/09/2007, Công ty Cổ phần C đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu số VNASHINBOND0207-027 với số tiền 50.000.000.000 đồng tương đương 500.000 trái phiếu của P1, Kỳ hạn trái phiếu: 10 năm kể từ ngày phát hành; Lãi suất trái phiếu: 9,4%/năm. Phương thức trả lãi: trả lãi sau hàng năm, định kỳ 1 năm một lần bắt đầu sau 1 năm kể từ ngày phát hành trái phiếu; Hình thức trái phiếu: trái phiếu ghi sổ; Ngày phát hành: 20/09/2007; Ngày thanh toán gốc: 20/09/2017; Thanh toán gốc: Tiền gốc Trái phiếu được trả một lần khi đến hạn đúng bằng mệnh giá trái phiếu. Do vậy, xác định Ngân hàng TMCP Đ là chủ sở hữu hợp pháp của 500.000 trái phiếu VINASHINBOND 0207.

Kể từ khi phát hành Trái phiếu đến nay, SBIC mới chỉ thanh toán được 02 kỳ trả lãi (kỳ trả lãi vào ngày 20/09/2008 và 20/09/2009) với tổng số tiền lãi là 9.400.000.000 đồng, bắt đầu quá hạn thanh toán lãi kể từ kỳ thanh toán ngày 20/09/2010 và quá hạn thanh toán gốc từ ngày 20/09/2017. Kể từ thời điểm năm 2017 đến nay, P1 đã có các công văn ngày ngày 08/11/2022, ngày 02/6/2023, ngày 14/4/2023 gửi đến SBIC để thông báo về việc yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi đối với trái phiếu VINASHINBOND 0207, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay SBIC vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho P1.

Ngày 27/4/2022, P1 và SBIC đã làm việc về hướng xử lý các khoản nợ và nghĩa vụ liên quan của S tại P1. Theo đó, S đã xác nhận nghĩa vụ nợ gốc lãi đối với khoản trái phiếu VINASHINBOND 0207tạm tính đến ngày 31/3/2022 là 109.180.830.000 đồng.

Từ những nhận định trên, HĐXX nhận thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P1 về số nợ gốc là 50.000.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu về số tiền lãi:

Căn cứ Khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006:

“3. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.

Căn cứ Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 quy định về Lãi suất Trái phiếu:

“2. Lãi suất trái phiếu có thể xác định cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu hoặc thả nổi trên thị trường.

3. Trái phiếu được thanh toán lãi theo các phương thức:

a) Thanh toán lãi định kỳ;

Tại hợp đồng mua bán trái phiếu, các bên có thỏa thuận lãi suất trái phiếu, cụ thể là: Trái phiếu VINASHINBOND 0207 lãi suất trái phiếu 9,4%/năm, kỳ hạn trái phiếu 10 năm. Mức lãi suất này phù hợp quy định của Bộ luật dân sự 2005. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với phần vốn nợ của tổ chức phát hành. Chính tại các bản công bố thông tin trái phiếu cũng đã ghi rõ: Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định tại Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp nên yêu cầu về lãi trong hạn của nguyên đơn là có cơ sở cần được chấp nhận, cụ thể: Tiền lãi của trái phiếu VINASHINBOND 0207 tạm tính đến ngày 20/7/2017 là: 50.000.000.000 đồng x 9,4% x 8 năm = 37.600.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu về tiền lãi chậm trả:

HĐXX nhận thấy, kể từ khi phát hành Trái phiếu đến nay, SBIC mới chỉ thanh toán được 02 kỳ trả lãi (kỳ trả lãi vào ngày 20/09/2008 và 20/09/2009) với tổng số tiền lãi là 9.400.000.000 đồng, bắt đầu quá hạn thanh toán lãi kể từ kỳ thanh toán ngày 20/09/2010 và quá hạn thanh toán gốc từ ngày 20/09/2017.

Căn cứ Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015 về Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:

“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

3. Căn cứ Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 về Lãi suất:

“5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

  • Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
  • Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi đối với số tiền lãi chậm thanh toán là 9,4%/năm từ khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán xong khoản nợ. HĐXX nhận thấy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu lãi suất chậm thanh toán là 9,4%/năm là tự nguyện không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 147, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 4, 357, 429, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 6 Luật Chứng khoán 2006; Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ.

    Buộc Tổng Công ty P1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi chậm thanh toán tính đến ngày 25/4/2024, cụ thể: Nợ gốc 50.000.0000.000 (Năm mươi tỷ) đồng; Nợ lãi và nợ lãi chậm thanh toán: 68.646.111.111 (Sáu mươi tám tỷ, sáu trăm bốn mươi sáu triệu, một trăm mười một nghìn, một trăm mười một) đồng. Tổng cộng: 118.646.111.111 (Một trăm mười tám tỷ, sáu trăm bốn mươi sáu triệu, một trăm mười một nghìn, một trăm mười một) đồng theo Hợp đồng mua bán trái phiếu số 06/190907/HĐTP/VFC-PVFC ngày 19/9/2007.

    Kể từ ngày 26/4/2024, Tổng Công ty P1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi chậm trả phát sinh của số tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết khoản nợ gốc theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 với mức lãi suất quá hạn là 9,4%/năm.

  2. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí sơ thẩm:

    - Tổng Công ty P1 phải chịu 226.646.111 (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn, một trăm mười một) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    - Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 110.000.000 (Một trăm mười triệu) đồng theo biên lai thu số 0004654 ngày 07 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI đồng XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu

  • Số bản án: 52/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger