Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-7-2024

V/v Ly hôn và tranh chấp

nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Kiên Ngọc Minh
  • - Ông Thạch Thanh Long

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quế Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 187/2024/TLST-HN ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 giửa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lý Thị Thu H, năm sinh 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 18/3/2024 và bản tự khai ngày 16/4/2024 nguyên đơn bà Lý Thị Thu H trình bày: Bà H với ông Nguyễn Văn S quen biết nhau do tìm hiểu và được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã N ngày 01/01/2002. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2007 thì vợ phát sinh mâu thuẩn do chồng có quan hệ với người phụ nữ khác, thường xuyên uống rượu bia, không lo cho gia đình và xúc phạm bà H nên vợ chồng không còn hợp ý nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải với nhau, gia đình không còn hạnh phúc. Từ đó, bà H sống ly thân với ông S đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn lại được nên bà H yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 24/4/1995 và Nguyễn Vũ L1, sinh ngày 08/8/1990. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn S: Trong quá trình giải quyết ông S vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự còn bị đơn vắng mặt không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bà Lý Thị Thu H về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn khởi kiện của bà Lý Thị Thu H xin ly hôn đối với ông Nguyễn Văn S có địa chỉ ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng nguyên đơn bà Lý Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do ở xa còn bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu H với ông Nguyễn Văn S tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 615 ngày 01 tháng 01 năm 2002 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Theo lời khai của bà Lý Thị Thu H cho rằng nguyên nhân vợ chồng không còn hạnh phúc do ông S có quan hệ với người phụ nữ khác, thường xuyên uống rượu bia, không lo cho gia đình và xúc phạm bà H dẫn đến vợ chồng thường hay cự cải với nhau, bất đồng quan điểm sống nên bà H yêu cầu xin ly hôn với ông S. Đối với ông S, Toà án đã mời nhiều lần để giải quyết nhằm hàn gắn cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông S không đến dự. Qua xác minh, theo lời khai của bà Lý Thị V là chị ruột bà H, ông Lê Trung T là Trưởng ban N nơi vợ chồng bà H, ông S sinh sống có ý kiến cho rằng: Vợ chồng bà H, ông S cũng thường hay bất hòa do ông S hay ăn nhậu với bạn bè không lo cho vợ con nên vợ chồng sống ly thân đến nay. Thấy rằng, nguyên nhân vợ chồng bà H, ông S không còn sống chung với nhau là do ông S thường hay uống rượu về đánh bà H nên bà H và ông Sơn s ly thân với nhau từ năm 2007 cho đến nay. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nhưng thực tế hiện nay, vợ chồng anh S, bà H không còn liên lạc với nhau, thân ai nấy lo không còn quan tâm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Từ những cở sở trên, việc yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông S.

[5] Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh con, xác định vợ chồng bà H, ông S có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 24/4/1995 và Nguyễn Vũ L1, sinh ngày 08/8/1990. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và đã có gia đình riêng, bà H không yêu cầu giải quyết việc nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng, bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.

[7] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lý Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các, Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Thu H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S. Giấy chứng nhận kết hôn số 615 ngày 01 tháng 01 năm 2002 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho bà Lý Thị Thu H và ông Nguyễn Văn S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Có 02 người con: Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 24/4/1995 và Nguyễn Vũ L1, sinh ngày 08/8/1990. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và đã có gia đình riêng, bà H không yêu cầu giải quyết việc nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
  4. Về án phí: Bà Lý Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003185 ngày 01/4/2024 tại Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Bà Lý Thị Thu H và ông Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Càng Long;
  • - CCTHADS huyện Càng Long;
  • - UBND xã Nhị Long;
  • - Các đương sư;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Huỳnh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lý Thị Thu Hương được ly hôn với ông Nguyễn Văn Sơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger