Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đồng.
  • Ông Mạc Vương Long.

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Vi Thị M, sinh năm 1994.
  • Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Bị đơn: Anh Thoỏng Văn T, sinh năm 1993.
  • Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, Bộ C.
  • (Chị M và anh T đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vi Thị M, bản tự khai của bị đơn anh Thoỏng Văn T nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T kết hôn với nhau vào năm 2015, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị M anh T có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới chị M anh T về chung sống cùng nhau ngay tại thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị M anh T đều xác định vợ chồng chung sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc, chị M xác định vợ chồng mâu thuẫn nhỏ bắt đầu từ năm 2020 đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Chị M cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T nghiện ngập, vi phạm pháp luật bị vào tù ra trại nhiều lần không thay đổi, anh T không quan tâm đến gia đình, không ai quan tâm đến ai. Anh T xác định đến tháng 02 năm 2023 thì vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù. Hiện nay, anh T đang đi chấp hành án tại Trại giam T1. Nay chị M xác định tình cảm tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Thoỏng Văn T, anh Thoỏng Văn T nhất trí ly hôn với chị M.

Về con chung: Chị M anh T có một con chung là cháu Thoỏng Tuấn K, sinh ngày 12/12/2016. Vợ chồng ly hôn chị M anh T cùng nhất trí để chị M là người chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chị M anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2024 cháu Thoỏng Tuấn K trình bày nguyện vọng được ở với chị Vi Thị M.

Tại phiên tòa, chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện của chị M, lời khai của anh T và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị M, cho chị Vi Thị M được ly hôn với anh Thoỏng Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Thoỏng Tuấn K, sinh ngày 12/12/2016 cho chị Vi Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Vi Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vi Thị M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Thoỏng Văn T. Bị đơn anh Thoỏng Văn T có nơi cư trú tại thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T đều vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T.
  3. [3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 04 tháng 5 năm 2015. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
  4. [4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, chị M xác định vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng từ đầu năm 2022, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T nghiện ngập, vi phạm pháp luật bị vào tù ra trại nhiều lần không thay đổi, hiện nay không ai quan tâm đến ai. Anh T xác định đến tháng 02 năm 2023 thì vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M anh T là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị M anh T đều cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Bị đơn anh Thoỏng Văn T cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống nên nhất trí theo yêu cầu ly hôn của chị M.
  5. [5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Vi Thị M được ly hôn anh Thoỏng Văn T. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho chị Vi Thị M được ly hôn với anh Thoỏng Văn T phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
  6. [6] Về con chung: Chị Vi Thị M và anh Thoỏng Văn T có một con chung là cháu Thoỏng Tuấn K, sinh ngày 12/12/2016. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị M anh T đều nhất trí để chị M chăm sóc nuôi dưỡng con chung của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh T đi chấp hành án thì con chung do chị M nuôi

dưỡng phát triển ổn định. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của con chung cần giao con chung cho chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nguyện vọng của chị M anh T, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết vì các đương sự không yêu cầu.

  1. [7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. [8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Vi Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  3. [9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị M được ly hôn với anh Thoỏng Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Thoỏng Tuấn K, sinh ngày 12/12/2016 cho chị Vi Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi các con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Thoỏng Văn T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh Thoỏng Văn T thực hiện quyền này.

  1. Về án phí: Chị Vi Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006026 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vi Thị M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh
  • Bắc Giang (Số 21/2015);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: b
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger