|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH L |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2024
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị G
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Đ
- Ông Nguyễn Thành C
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh N, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phan Thị Thùy L, sinh năm 1982; Cư trú: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh L. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: ông Trần Thanh H, sinh năm 1977; Cư trú: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh L. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Phan Thị Thùy L và lời trình bày trong quá trình giải quyết, nội dung vụ án như sau: Sau khi tìm hiểu và quen biết, ngày 15/01/2003 bà và ông H có thực hiện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63, quyển số 01/2003 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh L cấp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh L. Sau thời gian dài chung sống thì cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H không lo làm ăn mà suốt ngày cờ bạc dẫn đến tài sản vợ chồng làm ăn trong suốt thời gian chung sống không còn chỉ còn lại mỗi căn nhà tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh L mà hiện tại vợ chồng đang sống. Bà đã cho ông H nhiều cơ hội để ông sửa sai, tu chí làm ăn, lo cho vợ con nhưng ông H vẫn không thay đổi. Đến nay mặc dù cả hai vẫn còn sống chung nhà nhưng do không có tiếng nói chung nên vợ chồng hay cãi vã, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu ly hôn với ông H.
Bà và ông H có 02 con chung tên Trần Thanh Gia H1, sinh ngày 23/10/2001 và Trần Thanh Gia K, sinh ngày 22/3/2008. Cháu Trần Thanh Gia H1 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn về cháu Trần Thanh Gia K do trước giờ bà là người chăm sóc, nuôi dưỡng nên nay để đảm bảo sự ổn định cho cuộc sống của cháu K thì bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Thanh H trình bày: Trong quá trình tham gia phiên hòa giải giải quyết vụ án ông thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn bà L trình bày là ông cũng thống nhất. Ông cũng nhiều lần hứa bỏ cờ bạc để gia đình êm ấm, hạnh phúc nhưng ông không làm được dẫn đến bà L bị mất niềm tin ở ông. Tuy nhiên ông nhận thấy ông còn thương vợ con nên ông không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Trong trường hợp bà L cương quyết ly hôn và Tòa án chấp nhận cho ly hôn thì ông đồng ý giao con chung là Trần Thanh Gia K, sinh ngày 22/3/2008 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải, nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: bà Phan Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh H, hiện ông H đang cư trú tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh L nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Ông Trần Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông H.
Bà Phan Thị Thùy L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà L.
[2] Về hôn nhân: bà Phan Thị Thùy L kết hôn với ông Trần Thanh H, thực hiện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 63, quyển số 01/2003 ngày 15/01/2003 nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L cho rằng thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến việc hay cãi vã, hiện nay cả hai vẫn còn sống chung nhưng không ai quan tâm đến ai.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án thông báo mời bà L và ông H đến hòa giải. Thấy rằng, ông H không tìm được phương án hiệu quả nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cương quyết ly hôn với ông H. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông H không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giải quyết cho bà L được ly hôn với ông H.
[3] Về con chung: bà L và ông H xác định vợ chồng có 02 con chung là Trần Thanh Gia H1, sinh ngày 23/10/2001 và Trần Thanh Gia K, sinh ngày 22/3/2008. Cháu Trần Thanh Gia H1 đã trưởng thành. Bà L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Xét thấy con chung G hiện bà L vẫn đang chăm sóc nuôi dưỡng, do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu K, đồng thời ông H cũng đồng ý để bà L tiếp tục nuôi con chung tên K nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Trần Thanh Gia K, sinh ngày 22/3/2008 cho bà L nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết
[5] Về tài sản chung: bà L và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về nợ chung: bà L và ông H xác định không có nợ chung
[7] Về án phí: bà L là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thùy L về việc yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh H.
[1] Về hôn nhân: bà Phan Thị Thùy L được ly hôn với ông Trần Thanh H.
[2] Về con chung: bà Phan Thị Thùy L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thanh Gia K, sinh ngày 22/3/2008.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về án phí: bà Phan Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo Biên lai thu số 0011099 ngày 22/02/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C, tỉnh L chuyển sang án phí sung công quỹ nhà nước.
[4] Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị G |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thùy L về việc yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh H
