Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thi Thị Thanh Trúc

2. Ông Nguyễn Văn Triệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

Ông Cao Trung Tín - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Văn C, sinh năm 1988 tại tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: Ấp Bà T, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Lâm Văn N (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1952. Có vợ tên: Lê Thị Kiều M, sinh năm 1984, có 01 người con sinh năm 2008. Anh, chị em ruột có 05 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Trần Văn N1, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/. Ông Trần Quốc V, sinh năm 1982.

2. Ông Lâm Văn T1, sinh năm 1986.

3/. Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 26/5/2023, Trần Quốc V sinh năm 1982, nơi cư trú ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh tổ chức uống rượu tại nhà cùng với Lâm Văn CLâm Văn T1, sinh năm 1986, cư trú cùng ấp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, cha của V là ông Trần Văn N1, sinh năm 1962, nơi cư trú ấp B, xã L, huyện C đi đám cưới về ghé nhà của V và xảy ra mâu thuẫn với CT1 (ông N1 là cậu ruột của CT1) nên C rủ T1 đi về nhà bà Trần Thị S, sinh năm 1952 là mẹ ruột của C (nhà ở cạnh nhà C) mua bia uống. T1 điện thoại rủ Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1987, nơi cư trú ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và Trần Quốc V đến. Trong lúc uống bia, V nhắc lại sự việc bị đòi nợ 300.000 đồng và 04 cuộn rơm nên giữa PC xảy ra cự cãi với V. Chơn dùng tay phải kẹp cổ của V kéo ra cửa, dùng tay trái đánh 02 cái vào mặt V nhưng không gây thương tích và đuổi V về. V đi đến nhà mẹ ruột là bà Tôn Thị T2, sinh năm 1960 cư trú cùng ấp lấy một cây dao dài khoảng 80cm (loại dao mác) mục đích đến gặp C, T1P để đánh nhau nhưng được bà T2 can ngăn nên V đi về nhà ngủ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, V đến gặp ông N1 kể lại việc bị C đánh, ông N1 tức giận lấy một cây mũi chĩa dài khoảng 01 mét (cán bằng gỗ, mũi bằng kim loại dài khoảng 10cm, đầu mũi chĩa nhọn) cùng V đi tìm C, T1P. Khi đi đến nhà bà Nguyễn Thị L sinh năm 1966, cư trú cùng ấp thì nhìn thấy P, T1C đang uống bia nên ông N1 hỏi “tại sao tụi mày nhậu cùng với con tao mà đánh nó” và có lời nói xúc phạm P, T1, C. Lúc này T1P chạy ra chỗ ông N1V trước còn C chạy ra sau.

Khi chạy ngang qua phần mộ của cha mình, C nhìn thấy 01 đoạn cây dài khoảng 01 mét, to hơn nửa cổ tay, thân cây tròn, đã khô nên nhặt lên cầm trên tay phải và chạy đến chỗ ông N1 đang đứng, C cầm đoạn cây bằng hai tay, đứng đối diện đánh 01 cái vào vùng trán bên trái ông N1 gây thương tích và vứt bỏ đoạn cây tại hiện trường.

Sau đó C nhìn thấy PV đang đánh nhau bằng tay nên chạy đến cùng P đánh nhau với V còn ông N1 thì vật lộn, đánh nhau với T1. Thấy T1 bị đánh nên vợ của T1Võ Thị Thanh H, sinh năm 1986 dùng nón bảo hiểm đánh vào người ông N1 nhưng không gây thương tích. Được mọi người can ngăn, ông N1 được đưa đến Bệnh Viện Đa khoa tỉnh T để điều trị thương tích và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 336/KLTTCT-2023 ngày 26/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Sẹo trung bình vùng trán trái tỷ lệ 6%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn N1 tại thời điểm giám định là 6%.

Cơ chế hình thành vết thương: Do ngoại lực tác động trực tiếp. Vật gây ra thương tích là vật tày cứng. Hướng tác động từ trái sang phải, từ trước ra sau.

Tại Công văn số 40/TLCV-TTPY ngày 20/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T xác định: Vết thương sẹo trung bình vùng trán trái của ông Trần Văn N1 tỷ lệ 6% là do vật tày, cứng gây ra (vật cứng không có cạnh).

Ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành thực nghiệm điều tra, quá trình thực nghiệm cho Lâm Văn C diễn lại hành vi, tư thế đánh gây thương tích cho bị hại Trần Văn N1. Kết quả thực nghiệm Lâm Văn C xác định được tư thế, động tác đánh gây ra vết thương vùng trán trái của bị hại Trần Văn N1 và phù hợp với cơ chế hình thành vết thương trên người bị hại Năm.

Đối với Lâm Văn T1Võ Thị Thanh H có hành vi dùng tay và nón bảo hiểm đánh vào người ông N1 nhưng không gây thương tích. Riêng Trần Quốc V trong lúc xô xác với PC bị thương ở mí mắt phải, tuy nhiên vết thương nhẹ và đã bình phục, V không biết ai đã gây ra thương tích trên đồng thời không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã gây thương tích nên không xem xét giải quyết. Ngày 19/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Về vật chứng: Công an xã L tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được vật chứng có liên quan đến vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Quốc V yêu cầu Lâm Văn CNguyễn Hoàng P bồi thường các khoản chi phí điều trị, ngày công lao động, tổn thất tinh thần với tổng số tiền 2.000.000 đồng. Trần Văn N1 yêu cầu Lâm Văn C bồi thường các khoản chi phí điều trị, ngày công lao động, tổn thất tinh thần, chi phí giám định với tổng số tiền 39.389.000 đồng. Lâm Văn C đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tạm nộp tiền bồi thường thiệt hại với số tiền 2.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKS.HS ngày 16/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Lâm Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lâm Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát thể hiện là đúng. Bị cáo không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng và hoàn toàn thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Lâm Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” như Bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo, V1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Văn C từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường dân sự và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lâm Văn C đã khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 26/5/2023 bị cáo Lâm Văn C đã cầm đoạn cây bằng hai tay, đứng đối diện đánh 01 cái vào vùng trán bên trái bị hại ông Trần Văn N1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Xét thấy Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Lâm Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Bị cáo đã có hành vi gây thương tích bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội vi phạm pháp luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo không có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; bị hại có một phần lỗi; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đủ điều kiện để bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo, nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lâm Văn C đã tự nguyện nộp khắc phục một phần hậu quả với số tiền 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa người bị hại ông Trần Văn N1 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 39.389.000 đồng, bị cáo tự nguyện nộp 2.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho ông Trần Văn V2 (con ông N1) xong, ngoài ra bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại Trần Văn N1 39.389.000 đồng nghĩ nên ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo tại phiên tòa.

[4] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật dân sự.

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lâm Văn C bồi thường cho ông Trần Quốc V số tiền 2.000.000 đồng (đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành xong).

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lâm Văn C bồi thường cho ông Trần Văn N1 số tiền 39.389.000 đồng (Bị cáo phải nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lâm Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.969.450 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo và các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - UBND xã Long Hòa;
  • - Bị cáo và các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thảo Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger