Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số 52/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi và ông Nguyễn Văn Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Dương Văn H (tên gọi khác: Hậu C), sinh năm 1988; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ F, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T (chết) và bà Trần Ngọc G, sinh năm 1966; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; chưa có vợ con;

Nhân thân: Ngày 04/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc ra Quyết định số 47/QD-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong vào ngày 30/12/2018.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến nay.

Bị hại:

  • - Ngô Minh H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
  • - Thái Văn T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ D, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Quách Minh T2, sinh năm 1992; nơi cư trú: tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng:

- Nguyễn Quang V, sinh năm 1999; Tăng Văn P, sinh năm 1987; Đoàn Thanh V1, sinh năm 2002; Lê Hùng D, sinh năm 1974; Trần Đức L, sinh năm 1983; Lương Quốc H2, sinh năm 1984; Ngô Thị Trúc Đ, sinh năm 2002; Lý Chí T3, sinh năm 1994; Trần Xuân L1, sinh năm 1992; Phan Hoài N, sinh năm 1991; Nguyễn Văn R, sinh năm 1987, tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 01/01/2024, Dương Văn H uống rượu bia cùng với Ngô Minh H1, Trần Đức LTăng Văn P tại hẻm phía trước quán cà phê “Chiều Tím” thuộc tổ F, khóm C, phường C, thành phố C; trong lúc uống rượu giữa HH1 xảy ra cự cãi, H1 dùng tay đánh trúng mặt của H, H nhặt thanh sắt vuông dài 1,07 m đánh trúng vào tay, lưng, mặt của H1 thì H1 bỏ chạy ra đường P, lúc này H ném bỏ thanh sắt đi về nhà lấy 01 cây dao tự chế có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 42 cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 17,4 cm quay lại thách thức đánh nhau với H1, H1 nhặt thanh sắt H ném bỏ, xông đến đánh trúng tay trái của H, H giật lấy thanh sắt, dùng dao chém trúng vào cẳng tay trái của H1, H1 bỏ chạy thì H cầm dao đứng giữa đường P chặn các phương tiện lưu thông trên đường. Lúc này, lực lượng tuần tra Công an thành phố C gồm các anh Thái Minh T4, Quách Minh T2, Lý Chí T3, Trần Xuân L1, Phan Hoài N, Nguyễn Văn R đến khuyên can và mời H trụ sở làm việc nhưng H không chấp hành mà dùng dao chém trúng cẳng tay phải của anh T4. Tổ tuần tra liền tổ chức vây bắt H, H cầm dao bỏ chạy vào khu nhà mồ thuộc tổ F, khóm C, phường C, thành phố C cố thủ và gây thương tích ở cánh tay trái của anh T2. Sau đó, lực lượng Công an khống chế, bắt giữ H. Đồng thời đưa anh H1, T2, T4 đến Bệnh viện cấp cứu. Ngày 02/01/2024 và ngày 05/01/2024 các anh H1, T4, T2 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với H.

Căn cứ các Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 02, 03, 05/24/KLTTCT-TTPY ngày 03/01/2024 và các Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 02BS/24/KLTTCT-TTPY, số 03BS/24/KLTTCT-TTPY ngày 21/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ghi nhận kết luận thương tích như sau:

  • - Ngô Minh H1, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 04%. Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên. Thái Văn T1
  • - Thái Văn T1, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 19%. Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên.
  • - Quách Minh T2, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 02%. Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên.

Ngày 09/01/2024 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C ban hành các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Dương Văn H về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Cáo trạng số: 35/CT-VKSCĐ-HS ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận đã có hành vi gây thương tích cho các bị hại H1, Tâm T5, đồng ý với các Kết luận giám định như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, đã tác động gia đình H bồi thường cho bị hại H1 số tiền 7.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường đối với thương tích do H1 gây ra.

Bị hại H1 không yêu cầu bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, lý do cũng có phần lỗi của bị hại H1.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của bị hại Thái Văn T1, Quách Minh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu xử lý theo pháp luật, không yêu cầu bồi thường.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”;

Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là các công cụ phương tiện phạm tội, tiếp tục lưu trữ các đĩa DVD ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo Dương Văn H.

Về trách nhiệm dân sự, bị cáo H đã bồi thường cho bị hại H1 số tiền 7.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm. Các bị hại T1, T2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Các bị hại T1, T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt, xét việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về hành vi phạm tội:

Đối chiếu lời nhận tội của bị cáo với các chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, đã được thẩm tra tại phiên tòa cùng lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định bị cáo H là người gây ra thương tích cho bị hại H1 tỷ lệ thương tích là 04%; bị hại T1 là 19%; bị hại T2 là 02% theo các Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y, Sở Y.

[4] Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, lại có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện điều trị bắt buộc, năm 2018, khi trở về địa phương tái hòa nhập cộng đồng, lẽ ra phải từ bỏ ma túy, trở về cuộc sống lương thiện, dùng sức lao động chân chính để làm những công việc có lợi ích cho xã hội, bản thân và gia đình; trái lại, bị cáo đi ngược lại lợi ích xã hội, vẫn còn tiếp tục sử dụng ma túy. Ngày xảy ra sự việc phạm tội, bị cáo đã tiếp tục sử dụng chất kích thích rượu, bia và xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhặt với bị hại H1, bị cáo liền dùng hung khí nguy hiểm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích với H1. Khi được Tổ tuần tra can ngăn, bỏ hung khí xuống, nhưng bị cáo vẫn cố chấp và tiếp tục dùng hung khí tấn công anh Thái Văn T1, Quách Minh T2, là các cán bộ của của lực lượng tuần tra đang thi hành công vụ theo Kế hoạch tuần tra, kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự địa phương, với tổng tỷ lệ thương tích của các bị hại H1, T1, T2 là 25%.

Hành vi của bị cáo Dương Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và đối với người đang thi hành công vụ, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt thật tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần, mỗi lần phạm tội đã đủ truy cứu trách nhiệm hình sự nên phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, khắc phục xong hậu quả, bị hại H1 cũng có lỗi, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên là phù hợp và có căn cứ, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.

[7] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo H đã bồi thường cho bị hại H1 số tiền 7.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm. Các bị hại T1, T2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với quần áo, nón kết và dép của Dương Văn H sử dụng liên quan đến vụ án, H không có yêu cầu nhận lại nên tiêu hủy; đối với vật chứng là 01 cây dao tự chế có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 42 cm, mũi dao sắc nhọn, sắc bén 01 cạnh, cạnh còn lại có 05 lổ tròn nhỏ, phần cán dao bằng gỗ tròn dài 17,4 cm, 01 thanh sắt vuông dài 1,07 m, cạnh vuông (2,5 × 2,5) cm, là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 30 đĩa DVD ghi lại hình ảnh bị cáo Dương Văn H thực hiện hành vi gây thương tích cho các bị hại.

[9] Về án phí, bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Dương Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tiếp tục lưu 30 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án; tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao tự chế, 01 thanh sắt vuông, cùng vật dụng quần áo, nón kết và dép của bị cáo Dương Văn H sử dụng liên quan đến vụ án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dương Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại Ngô Minh H1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các bị hại Thái Văn T1, Quach Minh T2 vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ;
  • - Phòng hồ sơ;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà




Trịnh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger