Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 23/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Lê Thu;
  2. Bà Hoàng Mỹ Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trúc Giang- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/5/2024 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/HSST-QĐ ngày 24/4/2024 với các bị cáo:

  1. Lê Tân H sinh năm 1987 Thành phố H nơi cư trú: CC 28 đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định nghề nghiệp: Công nhân trình độ văn hoá (học vấn): 8/12 dân tộc: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Lê Tân Việt bà Lương Thị T, có vợ và 01 con sinh năm 2011 tiền án: Không có tiền sự: Ngày 15/10/2015 TAND Quận 5 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (Quyết định số 98/2015/QĐTA), ngày 31/01/2018 TAND Quận 5 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 23 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 14/2018/QĐ-TA), ngày 16/3/2018 Công an P1, Quận E phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 26/7/2021 TAND Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 70/QĐ-CSCNBB-TA); nhân thân: Ngày 31/01/2005 TAND Quận 10 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án số 11/2005/HSST), ngày 01/02/2024 TAND Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 01/02/2024) bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/9/2023; có mặt;
  2. Phạm Đức H1 sinh năm 1978 Thành phố H nơi cư trú: 313/1 đường T, phường A, quận B, Thành phố H nghiệp: Nhân viên giao hàng trình độ văn hoá (học vấn): 12/12 dân tộc: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Phạm Đức Hảibà Nguyễn Thị H2, có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014 tiền án: Không có tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 14/6/2017, TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng (Quyết định số 306/2017/QĐ-TA)/2005/HSST) bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/9/2023; có mặt;

Bị hại:

  1. Ông Trần Văn P, sinh năm: 1997, địa chỉ: B M, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
  2. Trẻ Trần Ngọc N, sinh năm 2009, địa chỉ: 1 đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp cho trẻ Trần Ngọc N: bà Trần Thị Ngọc L, địa chỉ: 1 đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Trần Thục H3, địa chỉ: I đường số A B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
  2. Ông Nguyễn Mạc T1, sinh năm 1971, địa chỉ: P H, R, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 16/9/2023, Lê Tân H gặp Phạm Đức H1 đang điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 51N3-1651 tại khu vực Bệnh viện C. Cả 02 rủ nhau đi trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài. Đức Huy giao mô tô hiệu Wave, biển số 51N3-1651 cho Tân Huy điều khiển chở Đức H1 qua nhiều tuyến đường tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đi ngang cửa hàng M, địa chỉ: G đường số B, Cư xá L, Phường A, Quận A, T phát hiện 01 xe đạp điện hiệu Pega màu trắng của em Trần Ngọc N (sinh ngày 06/01/2009) để trước cửa hàng, không người trông coi, nên chỉ cho Đức H1. Đức H1 đứng cảnh giới còn Tân H dừng xe cách xe đạp điện 05 mét rồi đi bộ tiếp cận xe đạp điện trên. Tân Huy lén lút đẩy xe đạp ra ngoài rồi đạp xe rời khỏi cửa hàng. Tân Huy đạp xe một đoạn thì Đức H1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 51N3-1651 chạy phía sau, dùng chân đẩy phía sau xe đạp điện.

Lúc 20 giờ 00 ngày 20/9/2023, em Trần Ngọc N được người giám hộ đưa đến trình báo Công an P2, Quận A.

Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U, kết luận: 01 xe đạp điện hiệu Pega màu trắng, đã qua sử dụng, trị giá 7.375.000 đồng.

Sau khi chiếm đoạt được xe, cả 02 đi đến tiệm xe đạp, địa chỉ I P, Phường A, Quận E. Đức H1 đứng ngoài chờ, còn Tân H vào trong bán xe đạp điện cho bà Trần Thục H3 chủ tiệm xe đạp với giá 4.500.000 đồng. Tân Huy chia cho Đức H1 2.000.000 đồng. Số tiền trên cả 02 đã tiêu xài hết.

Khoảng 15 giờ 00 ngày 18/9/2023, Lê Tân HPhạm Đức H1 tiếp tục rủ nhau đi chiếm đoạt tài sản. Đức Huy giao mô tô hiệu Wave, biển số 51N3-1651 cho Tân Huy điều khiển chở Đức H1 qua nhiều tuyến đường tìm cơ hội. Khi đi ngang nhà số A T, Phường E, Quận E, Đ phát hiện 01 xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59T2-445.74 của ông Trần Văn P để trước cửa, không người trông coi, chìa khóa còn trên ổ khóa xe. Đức H1 chỉ cho Tân H biết và dừng xe cách một đoạn. Đức Huy ngồi trên xe cảnh giới. Tân Huy đi bộ tiếp cận, ngồi lên xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59T2-445.74 mở khóa, điều khiển xe rời đi, Đức H1 điều khiển mô tô hiệu Wave, biển số 51N3-1651 chạy theo sau.

Sau khi chiếm đoạt được xe, cả 02 đến tiệm cầm đồ, địa chỉ A Hòa Bình, Phường E, Quận A. Đức H1 đứng ngoài chờ còn T vào trong, cầm cố xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59T2-445.74 trên cho ông Nguyễn Mạc T1, chủ cửa hàng với giá 2.000.000 đồng. Tân Huy chia cho Đức H1 1.000.000 đồng. Số tiền trên cả 02 đã tiêu xài hết.

Lúc 16 giờ 30 ngày 18/9/2023, ông Trần Văn Phúc t báo Công an P3, Quận E.

Kết luận định giá tài sản số 99/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U1, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59T2-445.74, đã qua sử dụng, trị giá 5.000.000 đồng.

Qua truy xét Cơ quan điều tra phát hiện, lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Đức H1Lê Tân H.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q và Quận E, Phạm Đức H1Lê Tân H thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại Cơ quan điều tra, bà Trần Thục H3 trình bày như sau: Khoảng sáng ngày 16/9/2023, có Lê Tân H đến tiệm xe đạp, địa chỉ I P, Phường A, Quận E bán 01 xe đạp điện với giá 4.500.000 đồng. Khi bán xe trên, Tân H nói xe của người nhà. Bà H3 không biết việc trộm cắp trên. Bà H3 tự nguyện giao nộp xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1, ông Nguyễn Mạc T1 trình bày như sau: Ngày 18/9/2023, Lê Tân H đến tiệm cầm đồ, địa chỉ A Hòa Bình, Phường E, Quận A cầm cố 01 xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59T2-445.74 với giá 2.000.000 đồng. Khi cầm xe trên, Tân H nói xe mua chưa sang tên. Ông T1 không biết việc trộm cắp trên. Ông Trình tự n giao nộp xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSQ11 ngày 29 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố các bị cáo Phạm Đức H1Lê Tân H tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Đức H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Lê Tân H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của TAND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Trả lại cho bị cáo Đức H1: 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác dài tay màu trắng xanh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

    Ngày 16/9/2023, do cần tiền tiêu xài, Phạm Đức H1Lê Tân H cùng rủ nhau đi chiếm đoạt tài sản. Tân Huy điều khiển xe mô tô chở Đức H1 đến trước cửa hàng M, địa chỉ: G đường số B, Cư xá L, Phường A, Quận A; tại đây cả hai thấy 01 xe đạp điện hiệu Pega màu trắng của em Trần Ngọc N, trị giá 7.375.000 đồng đang để trước cửa hàng không người trông coi. Đức H1 đứng cảnh giới để Tân Huy lén lút chiếm đoạt chiếc xe trên. Ngày 18/9/2023, tại trước nhà số A T, Phường E, Quận E, Đức H1 tiếp tục cảnh giới để Tân H lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59T2-445.74, trị giá 5.000.000 đồng của ông Trần Văn P.

    Đối với bà Trần Thục H3 và ông Nguyễn Mạc T1 khi mua xe không biết do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Các bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì tính tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm, tuy nhiên đó chỉ là sự câu kết giản đơn. Các bị cáo cùng thống nhất hành vi phạm tội nên vai trò của các bị cáo ngang nhau.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Đức H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Áp dụng các tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Phạm tội với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo

Ngày 01/02/2024, TAND Quận 5 xử phạt Lê Tân H 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy " (Bản án số 22/2024/HS-ST) áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của bản án trên.

Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe mô tô hiệu Honda Blade biển số 59T2-445.74, Cơ quan cản sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông Trần Văn P;
  • 01 xe đạp điện hiệu Pega màu trắng, là tài sản bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho em Trần Ngọc N và người giám hộ.
  • 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 51N3-1651. Qua xác minh là của ông Phạm Đức H4. Ông H4 cho Đức H1 mượn xe để chở hàng, ông H4 không biết việc trộm cắp trên. Ngày 05/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho ông H4
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác dài tay màu xanh là tài sản riêng của Đức H1, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Đức H1.
  • 03 USB, 01 DVD chứa hình ảnh vụ trộm cắp tài sản đã lưu vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác; bà Trần Thục H3, ông Mạc Văn T2 không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và người giám hộ không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Tân H;

Căn cứ vào Điều 50; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Đức H1;

Tuyên bố các bị cáo Lê Tân HPhạm Đức H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Tân H 02 (hai) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của TAND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023

Xử phạt bị cáo Phạm Đức H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023.

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Trả lại cho bị cáo Phạm Đức H1: 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo khoác dài tay màu trắng xanh (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 23006/LNK-ĐCSHS ngày 21/4/2023).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại; người giám hộ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ánh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger