trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-5-2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Huỳnh N

- Bà Phạm Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị L Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị L – Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 646/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1982; trú tại: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn C sinh năm 1978; thường trú: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trú tại: Thôn T, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hoàng Văn C có quen biết tìm hiểu chung sống với nhau từ năm 1999, đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2002 phát sinh mâu thuẫn nhưng vì con bà cố gắng chịu đựng. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông C thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bới, đánh đập bà, ông C không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng bà không chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Văn C.

- Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung tên Hoàng Thị L sinh ngày 10/7/2002, Hoàng Văn D sinh ngày 24/5/2008 và Hoàng Thị N sinh ngày 18/12/2014. Con chung tên L đã thành niên, sống với ai tùy con quyết định, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. 02 con chung tên D và N đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi 02 con chung tên D và N cho đến ngày các con chung thành niên.

- Về cấp dưỡng: Bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn ông Hoàng Văn C: Ông C mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông C không đến Tòa án làm việc, hòa giải, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông C biết; do ông C vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã thực hiện việc tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn vắng mặt chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, xử cho bà H với ông C ly hôn; giao 02 con chung cho bà H nuôi dưỡng đến ngày các con chung thành niên; bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi các con chung nên không xem xét; tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “Tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn bà H với bị đơn ông C. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Hoàng Văn C có quen biết tìm hiểu chung sống với nhau từ năm 1999, đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bà H cho rằng, vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2002 phát sinh mâu thuẫn nhưng vì con bà cố gắng chịu đựng, nguyên nhân mâu thuẫn do ông C thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bới, đánh đập bà, ông C không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng bà không chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Văn C. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H với ông C đã trầm trọng, kéo dài. Ông C bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân, không đến Tòa án làm việc, hòa giải, không có thiện chí hòa giải và hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà H, ông bà không còn chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông C.

- Về con chung: Bà H với ông C có 03 con chung tên Hoàng Thị L sinh ngày 10/7/2002, Hoàng Văn D sinh ngày 24/5/2008 và Hoàng Thị N sinh ngày 18/12/2014. Con chung tên L đã thành niên, sống với ai tùy con quyết định, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. 02 con chung tên D và N đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi 02 con chung tên D và N cho đến ngày các con chung thành niên. Xét thấy, ông C không có ý kiến gì về con chung, bà H có yêu cầu nuôi 02 con chung tên D và N, từ khi ông bà không chung sống với nhau thì 02 con chung do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, con chung có nguyện vọng được ở với bà H. Do đó, để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định cũng như điều kiện để cháu phát triển mọi mặt về thể chất và tinh thần nên giao 02 con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến ngày thành niên là phù hợp.

- Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi các con chung nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H với ông C không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình về việc yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự 2008;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H, xử cho bà Nguyễn Thị H với ông Hoàng Văn C ly hôn.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Hoàng Văn D sinh ngày 24/5/2008 và Hoàng Thị N sinh ngày 18/12/2014 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến ngày các con chung thành niên.
  3. Về cấp dưỡng: Ông Hoàng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, bà H đã dự nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003404 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được chuyển thu.

5. Về quyền kháng cáo: Bà H có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông C vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS huyện Đ;
  • - THADS huyện Đ;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - UBND xã L, huyện P, tỉnh Thanh Hóa
  • (Số 84, quyển số 02);
  • - Lưu AV, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phượng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hậu, Chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger