TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày 22/8/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Vi Văn Tuấn.
Ông: Lương Văn Duẩn.
Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 05/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Lô Văn H – Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990 tại huyện Q C, tỉnh N A.
Nơi cư trú: bản N X, xã C H, huyện Q C, tỉnh N A; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 5; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lô Văn Đ (Đã chết) và bà Lữ Thị H; Vợ: Vi Thị T; con: 01 người; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 30/3/2019; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 24/4/2023.
Có mặt.
- Người bị hại: Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Hồng S – Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: phường L S, thị xã T H, tỉnh N A.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: ông Trần Võ H – Chức vụ: Hạt trưởng Hạt giao thông huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An – Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An.
Địa chỉ: thị trấn Tân Lạc, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Lô Văn T, sinh năm 1983.
- Lê Thị N, sinh năm 1977.
Nơi cư trú: bản N X, xã C H, huyện Q C, tỉnh N A.
Vắng mặt.
Nơi cư trú: bản N X, xã C H, huyện Q C, tỉnh N A.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 21/3/2023, bị cáo Lô Văn H đi soi ếch tại khu vực dốc Bù Xén, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Bị cáo đi trên đường liên xã Châu Hạnh - Châu Phong và thấy hai bên đường có các cột biển báo an toàn giao thông nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán, sau đó Hi về chòi nại của mình lấy búa tạ quay lại và dùng búa đập ống kim loại (Cột biển báo an toàn giao thông) làm cho ống bị đứt gãy, bị cáo đã lấy được 03 cột biển báo an toàn giao thông đưa về chòi nại của mình. Sau khi đưa về chòi nại bị cáo dùng máy mài cắt các cột thành từng khúc nhỏ và tháo biển báo bỏ trong bì xác rắn, sáng ngày 22/3/2023 bị cáo đã đưa toàn bộ các cột biển báo đã chiếm đoạt được đem bán phế liệu cho Lê Thị H, sinh năm 1987, trú tại bản N X, xã C H, huyện Q C, tỉnh N A được số tiền 140.000,đ.
Cùng với hành vi như trên vào tối ngày 22/3/2023 bị cáo đã chiếm đoạt 03 cột biển báo an toàn giao thông và tối ngày 23/3/2023 chiếm đoạt 03 cột biển báo an toàn giao thôn trên tuyến đường liên xã Châu Hạnh - châu phong. Sau khi chiếm đoạt được bị cáo đưa về chòi nại nhà mình và dùng máy mài cắt các cột thành từng đoạn ngắn và tháo biển báo bỏ trong bì xác rắn, sáng ngày 24/3/2023 bị cáo đã đưa toàn bộ số cột biển báo an toàn toàn giao thông chiếm đoạt tối 22/3 và 23/3/2023 đem bán phế liệu cho Lê Thị T, sinh năm 1976, trú tại K 3, thị trấn T L, huyện Q C, tỉnh N A được số tiền 420.000,đ.
Hạt giao thông huyện Qùy Châu là đơn vị thuộc Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An được giao nhiệm vụ quản lý tuyến đường DT544 từ xã Châu Hạnh đi xã Châu Phong, trong quá trình kiểm tra đã phát hiện bị mất các cột biển báo an toàn giao thông trên tuyến đường nên đã có đơn trình báo và đề nghị Cơ quan điều tra tiến hành điều tra xử lý. Chiều ngày 24/4/2023 bị cáo Lô Văn H biết hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đã bị phát hiện nên đã tự nguyện đến đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu và khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện.
Tài sản bị cáo Lô Văn H chiếm đoạt là các cột biển báo an toàn giao thông trên tuyến đường DT544 từ xã Châu Hạnh đi xã Châu Phong thuộc sở hữu của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An, giao cho Hạt giao thông huyện Quỳ Châu quản lý. Quá trình điều tra tài sản bị cáo chiếm đoạt không thu hồi được. Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố hình sự UBND huyện Quỳ Châu kết luận: 03 cột biển báo an toàn giao thông do Lô văn H chiếm đoạt ngày 21/3/2023 trị giá 4.797.000,đ; 03 cột biển báo an toàn giao thông do Lô Văn H chiếm đoạt ngày 22/3/2023 trị giá 4.797.000,đ; 03 cột biển báo an toàn giao thông do Lô Văn H chiếm đoạt ngày 23/3/2023 trị giá 4.797.000,đ. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 14.391.000,đ. Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại gồm: chi phí cho việc sản xuất và lắp đặt lại 09 biển báo an toàn giao thông do bị cáo chiếm đoạt là: 19.188.000,đ.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 máy mài cầm tay tại anh Lô Văn T; thu giữ tại bị cáo 01 búa tạ.
Cáo trạng số: 51/CT-VKS - QC, ngày 04/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố bị cáo Lô Văn H về tội : Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
-Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm g khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lô Văn H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản
Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự; điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho anh Lô Văn T 01 máy mài cầm tay, trả lại cho chị Lê Thị N 01 cái búa tạ.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584; 585 và điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An số tiền là: 19.188.000,đ.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
-Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không tranh luận và xin được giảm nhẹ mức hình phạt để các bị cáo cải tạo tốt và sớm được trở về với cộng đồng, với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên thu thập, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có khiếu nại về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và kiểm sát viên.
Về sự có mặt của người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, cơ quan điều đã lấy lời khai của người của người bị hại và người đại diện theo ủy quyền của người bị hại đã có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là 19.188.000,đ, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận yêu cầu bồi thường của người bị hại. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lô Văn T yêu cầu trả lại 01 máy mài cầm tay đã cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Thị N cho bị cáo mượn búa tạ và quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ cái búa tại bị cáo, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa chị N không có mặt và hiện nay đi làm ăn xa không rõ địa chỉ, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận cái búa tạ là do bị cáo mượn của chị N việc bị cáo dùng vào việc phạm tội chị N không biết. Việc vắng mặt của người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và cũng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó căn cứ điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đối với người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
- Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Tối ngày 21/3/2023. Bị cáo ở trong Chòi nại của gia đình mình ở khu vực dốc Bù Xén thuộc xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu và bị cáo đi soi ếch thì thấy hai bên đường thuộc tuyến đường đi từ xã Châu Hạnh vào xã Châu Phong đoạn đi qua dốc Bù Xén có các cột lắp biển báo an toàn giao thông làm bằng ống sắt và có một số cột thấy đổ nghiêng, do đó bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt các cột biển báo đó về bán phế liệu, bị cáo đã về chòi nại của gia đình mình và cầm theo búa tạ ra đường và đập vào chân cột và dùng tay bẻ biển báo an toàn giao thông cho đứt, tối hôm đó bị cáo đã chiếm đoạt được 03 cột biển báo an toàn giao thông đưa về chòi nại dùng máy mài cắt mỗi cột thành 03 khúc và bỏ cùng biển báo vào trong bì xác rắn, sáng ngày 22/3/2023 đem bán phế liệu chị Lê Thị H được 140.000,đ. Cùng với hành vi như trên vào tối ngày 22/3/2023 bị cáo đã chiếm đoạt 03 cột biển báo an toàn giao thông và tối ngày 23/3/2023 bị cáo tiếp tục chiếm đoạt 03 cột biển báo an toàn giao thông và đem về cắt mỗi cột thành 03 khúc và bỏ biển báo vào trong bì xác rắn, sáng ngày 24/3/2023 đã đem bán phế liệu cho chị Lê Thị T được 420.000,đ.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá tình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với lời khai của người bị hại. Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố hình sự UBND huyện Quỳ Châu kết luận: 03 cột biển báo an toàn giao thông do Lô văn H chiếm đoạt ngày 21/3/2023 trị giá 4.797.000,đ; 03 cột biển báo an toàn giao thông do Lô Văn H chiếm đoạt ngày 22/3/2023 trị giá 4.797.000,đ; 03 cột biển báo an toàn giao thông do Lô Văn H chiếm đoạt ngày 23/3/2023 trị giá 4.797.000,đ. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 14.391.000,đ. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là các cột biển báo an toàn giao thông của bị cáo trên tuyến đường DT544 ở khu vực dốc Bù Xén, thuộc xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 14.391.000,đ. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tài sản thuộc sở hữu của Công ty cổ phần quản lý, xây dựng cầu đường Nghệ An mà còn gây mất an toàn giao thông cho người tham gia giao thông đường bộ, tuyến đường DT544 khu vực đi qua dốc Bù Xén, thuộc xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu là đoàn đường có độ dốc cao, nhiều khúc cua. Đặc biệt trong thời gian qua trên nhiều tuyến đường đi qua địa bàn huyện Quỳ Châu xảy ra nhiều hành vi cố ý làm hư hỏng hoặc chiếm đoạt các biển báo an toàn giao thông gây bức xúc trong nhân dân.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện ba hành vi chiếm đoạt tài sản trong các ngày 21; 22 và 23/3/2023, mỗi hành vi của bị cáo thực hiện đã hoàn thành và đủ yếu tố cấu thành tội : Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy bị cáo phạm tội hai lần trở lên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 25/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 30/3/2019. Tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này đã được xóa án tích, mặc dù bị cáo đã được cải tạo, giáo dục ở trại giam, nhưng sau khi được trở về địa phương, bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Do đó cần thiết xét xử nghiêm đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện đã chủ động đến đầu thú tại cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Đối với hành vi của Lê Thị H và Lê Thị T mua tài sản do bị cáo chiếm đoạt. Tuy nhiên họ mua tài sản đó ở dạng phế liệu và không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Hành vi của những người này không cấu thành tội phạm. Do đó không xem xét.
[3] Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một máy mài cầm tay và một búa tạ. Quá trình điều tra xác định chiếc máy mài và búa tạ là tài sản hợp pháp của anh Lô Văn T và chị Lê Thị N cho bị cáo mượn nhưng không biết là bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó các tài sản trên trả lại cho chủ sở hữu.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng cầu đường Nghệ An yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là 09 cột biển báo an toàn giao thông gồm chi phí sản xuất, chi phí lắp đặt 09 cột biển báo mỗi cột là 2.132.000,đ. Tổng cộng thiệt hại là 19.188.000,đ. Yêu cầu trên của người bị hại là có căn cứ chấp nhận buộc bị cáo bồi thường. Trong quá trình điều tra cho đến khi mở phiên tòa bị cáo chưa bồi thường cho người bị hại. Do đó buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại.
[5] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm g khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự .
- Xử phạt: Lô Văn H 01 (Một) năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm gian 24/4/2023.
- Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho anh Lô Văn T 01 máy mài cầm tay; trả lại cho chị Lê Thị N 01 búa tạ. Chi tiết các vật chứng được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu lập ngày 05/7/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lô Văn H phải bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ Nghệ An số tiền: 19.188.000,₫ (Mười chín triệu một trăm tám tám nghì đồng).
- Án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lô Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000,₫ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là: 959.000,₫ (Chín trăm năm mươi chín nghìn đồng).
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Xuân Diệu |
Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 52/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lô văn hải - trộm cắp tài sản
