TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 22 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công.
2. Bà Hoàng Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với:
1. Bị cáo: Đỗ Đức N, sinh năm 1989 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. HKTT: Tổ E, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 9; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đỗ Văn L, mẹ: Phạm Thị V; Vợ, con: không có.
- Tiền án:
- + Bản án số 50/2019/HS-ST ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án số 04/2022/HS-ST ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
- Tiền sự:
- + Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 15/5/2023 của Chủ tịch UBND xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- + Quyết định số 40/QĐ-TA ngày 31/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng.
- + Quyết định số 28/2019/QĐ-TA ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng.
- + Quyết định số 645/QĐ-XPVPHC ngày 13/3/2019 bị Công an phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Nhân thân:
- + Bản án số 06/2016/HS-ST ngày 19/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản”.
- + Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 09/7/2015 của Công an phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Quyết định số 1799 ngày 21/5/2013 của UBND thành phố B về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- + Quyết định số 914/QĐ-UBND ngày 08/5/2008 của UBND thị xã B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm giáo dục lao động và dạy nghề về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị tạm giữ từ ngày 25/02/2024 đến ngày 28/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B. (có mặt)
2. Bị hại: Ông Trần Hòa H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ A, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, Đỗ Đức N đến quán cà phê của chị Trần Thị Kim Y trên đường Q thuộc tổ A, khu phố K, phường K, thành phố B để gọi xe ôm chở về phường L, thành phố B. Khi vào quán, N gặp chị Y hỏi ở đây có xe ôm không. Chị Y đi vào nhà gọi em trai là Trần Hòa H để ra chạy xe ôm. Anh H lấy xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 72H1-36268, ra để chở N. H và N ngồi lên xe nhưng quên mũ bảo hiểm nên anh H xuống xe vào nhà lấy mũ nhưng không rút chìa khóa xe, N liền nảy sinh ý định chiếm đoạt, mở khóa, nổ máy xe chạy ra Quốc lộ E, sau đó chạy lên xã C, thị xã P. Trên đường đi, đề phòng bị phát hiện, Nam tháo biển số xe ném xuống ruộng nhưng không nhớ địa điểm. N vào vựa ve chai của chị Nguyễn Thị D (thôn T, xã C, thị xã P) hỏi cầm xe lấy 400.000 đồng nhưng D không đồng ý nên N chạy xe xuống nhà anh Dương Văn H1 (vựa ve chai N đã từng bán sắt vụn trước đó - thị trấn Đ, huyện Đ) và nói với anh H1 cho cầm chiếc xe trên. Anh H1 hỏi nguồn gốc xe thì N nói xe của nhà, N cần tiền đi TP . nên cầm ít bữa rồi chuộc lại. Là chỗ quen biết nên H1 đồng ý cầm xe cho N với giá 1.500.000 đồng, không làm giấy tờ cầm cố. N lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết.
Ngày 25/02/2024, Nam ra Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đầu thú và khai nhận hành vi phạm như trên.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu xanh, đen, bạc không gắn biển số, số khung RLHJA3926LY092860, số máy JA39E2097268 do Dương Văn H1 giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự UBND thành phố B có kết luận: 01 xe xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu xanh, đen, bạc biển số 72H1 – 362.68 có giá trị 10.666.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 79 ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: xe mô tô, không biển số, số khung RLHJA3926LY092860, số máy JA39E2097268 nguyên thủy.
* Vật chứng hiện đang tạm giữ, xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu xanh, đen, bạc biển số 72H1-362.68 qua xác minh xe do Võ Phước T, sinh năm 1981, địa chỉ: Khu phố P, Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên chủ sở hữu. Ngày 03/4/2024, anh T đã bán chiếc xe trên cho anh Trần Hòa H nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 05/4/2024, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh H chiếc xe nêu trên.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi nhận lại xe Honda loại Wave màu xanh, đen, bạc biển số 72H1-362.68, anh H không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra anh Dương Văn H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 22/5/2024, anh H1 có đơn xét xử vắng mặt đồng thời không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Bản cáo trạng số 72/CT-VKSBR ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo Đỗ Đức N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đức N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Đỗ Đức N là người đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/02/2024 tại Tổ A, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đỗ Đức N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần Hòa H 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave màu xanh, đen, bạc biển số 72H1-362.68, trị giá 10.666.000₫ (Mười triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn đồng). Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Với bản chất muốn có tiền nhưng lười lao động, lợi dụng sơ hở của bị hại quên không rút chìa khóa xe liền chiếm đoạt đem tiêu thụ lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 3 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, trong đó có 2 tiền án; nhiều tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội cho thấy xem thường pháp luật và lần phạm tội này bị xét xử với tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm nên xử phạt thật nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú nên căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng: Không.
[5] Trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn H1 không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Đỗ Đức N 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2024.
2. Trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hòa H không yêu cầu gì thêm và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Dương Văn H1 không yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.
3. Án phí: Bị cáo Đỗ Đức N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/5/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm; đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Đức Nam - Trộm cắp tài sản
