TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Ngôn
- Ông Hoàng Văn Tấn
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/8/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 99/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn P, sinh năm 1985 – có mặt
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 – có mặt.
HKTT: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Thân Thị L – Giám đốc Phòng giao dịch – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
+ Bà Thân Thị M, sinh năm 1962 – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa Nguyên đơn anh Lê Văn P trình bày:
* Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T vào ngày 10/9/2004 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Ngày tổ chức cưới theo phong tục tập quán là ngày 04/8/2004 (âm lịch). Sau khi kết hôn thì chị T có về nhà anh làm dâu ngay, vợ chồng sống chung cùng gia đình anh khoảng 01 đến 02 năm thì ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tình cảm, vợ chồng cũng sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay, từ khi ly thân chị T về nhà mẹ đẻ ở thôn T, T, V, Bắc Giang sinh sống. Từ khi ly thân anh và chị T cũng như hai bên gia đình không hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
* Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Thu T1 sinh ngày 12/11/2005, cháu Lê Thị Thùy D, sinh ngày 09/7/2007 và cháu Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010. Hiện cháu T1 đang ở cùng anh P, cháu D và cháu P1 ở cùng chị T. Ly hôn anh tôn trọng nguyện vọng của các cháu, tuy nhiên hiện nay cháu T1 đang ở cùng anh, anh muốn nuôi thêm một cháu nữa để chị T đỡ vất vả, nếu được Tòa án chấp nhận giao cho anh cháu nào anh sẽ nuôi cháu đó. Trường hợp chị T nuôi con, dù là một cháu hay hai cháu anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho chị T là 1.000.000 đồng/ 1 tháng. Hiện anh đang làm công nhân, thu nhập khoảng 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Hiện anh có 01 quyền sử dụng đất diện tích 600m², trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích khoảng 100m². Anh xác định anh đủ điều kiện để nuôi con.
* Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác:
- Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Vợ chồng có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện V số tiền gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Nay ly hôn anh tự nguyện nhận thanh toán trả toàn bộ khoản nợ này cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện V, không yêu cầu chị T phải trả nợ cùng.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn P kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì chị về nhà anh P làm dâu ngay. Quá trình vợ chồng chung sống ban đầu hạnh phúc và có 03 con chung. Đến năm 2017 anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến năm 2020 thì về nước. Từ khi anh P về nước thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng vì anh P không quan tâm tới chị và có quan hệ tình cảm với người khác. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau và mâu thuẫn không thể hòa giải được. Chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 3/2023 cho đến nay. Anh P không gọi chị về đoàn tụ, mẹ con anh P còn tung tin nói xấu chị khắp nơi khiến chị vô cùng bức xúc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh P có đơn xin ly hôn chị đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Lê Thị Thu T1 sinh ngày 12/11/2005, Lê Thị Thùy D sinh ngày 09/7/2007, Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010. Hiện tại cháu D và cháu P1 đang ở cùng chị, còn cháu T1 về ở cùng anh P. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị nuôi cháu P1 và cháu D, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi cháu P1 với mức là 1.000.000 đồng/tháng. Hiện tại chị đang ở nhà bố mẹ đẻ chị, làm công nhân tại khu công nghiệp Đ, thu nhập ổn định khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, công sức chung, ruộng đất chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện V số tiền 70.000.000 đồng gốc và lãi. Chị đề nghị anh P phải trả số tiền này vì toàn bộ số tiền này là do anh P sử dụng, chị không được dùng. Hiện tại chị đi làm công nhân và phải nuôi hai con nên không có khả năng để trả khoản nợ này. Anh P đi nước ngoài về có điều kiện kinh tế hơn chị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang trình bày: Qua tiến hành rà soát hồ sơ vay vốn của chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị T có vay vốn tại Ngân hàng: số tiền 70.000.000 đồng thuộc chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo và chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn, cụ thể: Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, số tiền vay 50.000.000 đồng, vay ngày 12/12/2020, trên Sổ vay vốn mã số 1300122062, hạn trả nợ cuối cùng ngày 12/10/2025. Đến ngày 24/6/2023 số tiền còn nợ là 50.325.009 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 325.009 đồng; Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn, số tiền vay 20.000.000 đồng, vay ngày 03/02/2021, hạn trả nợ cuối cùng ngày 12/01/2026. Đến ngày 24/6/2023 còn nợ số tiền là 20.189.994 đồng, trong đó tiền gốc là 20.000.000 đồng, tiền lãi là 189.994 đồng. Nay chị T, anh P ly hôn, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V đề nghị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên yêu cầu anh Lê Văn P, chị Nguyễn Thị T có trách nhiệm thanh toán nợ gốc 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng) và lãi phát sinh cho Ngân hàng trước khi Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Bà Thân Thị M trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Lê Văn P và là mẹ chồng của chị Nguyễn Thị T. Năm 2020 bà có ký tên vào giấy ủy quyền trong hồ sơ vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V để anh P và chị T vay số tiền 50.000.000 đồng theo chương trình hộ mới thoát nghèo. Tại thời điểm vay bà không được cầm tiền và cũng không được sử dụng số tiền mà anh P và chị T đã vay của Ngân hàng. Bà được biết là năm 2021 anh P chị T còn vay số tiền 20.000.000 đồng nữa của Ngân hàng theo chương trình nước sạch. Từ khi vay bà không phải trả lãi hay gốc gì cho Ngân hàng cả, vợ chồng anh P chị T là người trả lãi hàng tháng. Nay anh P chị T ly hôn, Ngân hàng yêu cầu anh P chị T trả khoản tiền đã vay tại Ngân hàng bà xác định bà không được sử dụng số tiền đó, chỉ ký tên theo yêu cầu của Ngân hàng (hiện bà sống chung cùng gia đình con trai thứ hai, không sống cùng anh P chị T 13 năm nay rồi) nên bà không đồng ý trả nợ Ngân hàng cùng anh P và chị T. Anh P và chị T phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc và lãi theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của các con chị T, anh P. Cả ba cháu đều có nguyện vọng được ở với chị T.
Tại phiên tòa anh Lê Văn P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: về quan hệ hôn nhân anh đề nghị giải quyết ly hôn chị T; về con chung: anh đề nghị giải quyết để anh nuôi cháu Lê Thị Thu T1, để chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thùy D và cháu Lê Văn Đình P1 và anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Văn Đình P1, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi cháu P1 đủ tròn 18 tuổi; về công nợ anh nhận trả nợ toàn bộ khoản nợ tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện V.
Chị Nguyễn Thị T trình bày: về quan hệ vợ chồng chị đồng ý ly hôn; về con chung chị đồng ý để cháu Lê Thị Thu T1 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thùy D và cháu Lê Văn Đình P1, đồng ý việc anh Lê Văn P cấp dưỡng nuôi cháu Lê Văn Đình P1, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi cháu P1 đủ tròn 18 tuổi; về công nợ chị đồng ý việc anh P nhận trả toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện V.
Cháu Lê Thị Thu T1 trình bày: Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án, khi được hỏi ý kiến cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, tuy nhiên hiện nay cháu đang ở cùng bố cháu, cháu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho cháu được ở cùng bố.
Bà M vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang xác định tính đến ngày 21/8/2023 chị Nguyễn Thị T nợ số tiền cụ thể là: Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, đến ngày 21/8/2023 số tiền còn nợ là 50.980.488 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 980.488 đồng; Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn, đến ngày 21/8/2023 số tiền còn nợ là 10.323.111 đồng, trong đó tiền gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi là 323.111 đồng. Ngân hàng yêu cầu anh P, chị T phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành phát luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử, nghị án là đúng quy định của pháp luật. Việc chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu và giao văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định.
Về ý kiến giải quyết vụ án đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 357, 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T.
+ Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc anh Lê Văn P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thu T1, sinh ngày 12/11/2005. Chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thùy D sinh ngày 09/7/2007 và cháu Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010. Anh Lê Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Văn Đình P1 là 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi cháu P1 đủ tròn 18 tuổi. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh P. Anh P, chị T được quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh P, chị T thực hiện quyền này.
+ Về công nợ:
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng chính sách xã hội huyện V. Buộc anh Lê Văn P phải thanh toán trả Ngân hàng CSXH huyện V số tiền gốc là 60.000.000 và tiền lãi tạm tính đến ngày 21/8/2023 là 1.303.599 đồng, cụ thể là: Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo số tiền là 50.980.488 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 980.488 đồng; Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn số tiền là 10.323.111 đồng, trong đó tiền gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi là 323.111 đồng. Anh Lê Văn P còn phải tiếp tục chịu lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến ngày anh Lê Văn P thanh toán hết dư nợ cho PGD NHCSXH huyện V, tỉnh Bắc Giang.
+ Về án phí: Anh Lê Văn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Tại phiên tòa vắng mặt bà Thân Thị M, đại diện theo pháp luật của Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang (dưới đây viết tắt là PGD NHCSXH) là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 – BLTTDS.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/2004 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Anh Lê Văn P cũng đã cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn bản chính. Như vậy hôn nhân của anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T đều xác định trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn và anh P, chị T đã sống ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay. Nay anh Lê Văn P xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn, chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Do đó, cần căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Lê Thị Thu T1 sinh ngày 12/11/2005, Lê Thị Thùy D sinh ngày 09/7/2007, Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010. Hiện cháu T1 đang ở cùng anh P, cháu D và cháu P1 đang ở cùng chị T. Quá trình làm việc Tòa án đã lấy lời khai của 3 cháu, các cháu có nguyện vọng được ở với chị T. Tại phiên tòa cháu T1 trình bày lại nguyện vọng mong muốn được ở cùng bố, anh P và chị T thỏa thuận được việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Do vậy, cần công nhận sự thỏa thuận của anh P và chị T, cụ thể: giao cháu Lê Thị Thu T1 sinh ngày 12/11/2005 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Thị Thùy D sinh ngày 09/7/2007 và cháu Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010 cho chị T nuôi dưỡng. Anh P cấp dưỡng nuôi cháu Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010 cho chị T, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi con chung đủ tròn 18 tuổi. Ngoài ra cần căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình quy định về quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con sau khi ly hôn cho anh P và chị T.
[2.3] Về tài sản chung, ruộng đất chung, công sức: anh P và chị T đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về công nợ chung:
PGD NHCSXH huyện V, tỉnh Bắc Giang có yêu cầu độc lập yêu cầu anh P, chị T phải thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ thuộc chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo và chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn số tiền 70.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Quá trình giải quyết vụ án chị T anh P đã trả được lãi và 10.000.000 đồng tiền gốc của chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn. Anh P và chị T còn nợ PGD NHCSXH huyện V, tỉnh Bắc Giang: Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, tính đến ngày 21/8/2023 số tiền là 50.980.488 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 980.488 đồng; Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn, tính đến ngày 21/8/2023 số tiền là 10.323.111 đồng, trong đó tiền gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi là 323.111 đồng. Đây được xác định là khoản nợ chung của anh P và chị T vì anh chị vay để phát triển kinh tế gia đình, khoản vay phát sinh khi hai bên tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh P nhận trả cả khoản vay của Ngân hàng. Chị T đồng ý việc anh P nhận trả toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng chỉ yêu cầu anh P, chị T trả tiền không yêu cầu bà Thân Thị M trả tiền. Bà Thân Thị M là mẹ anh P có ký tên vào Hợp đồng tín dụng nhưng nay đã hết tuổi lao động và bản thân bà xác định khi đó ký với tư cách là thành viên trong hộ gia đình, bà không đồng ý trả nợ khoản vay cùng anh P, chị T. Do anh P tự nguyện nhận trả toàn bộ khoản nợ của Ngân hàng, nên cần buộc anh P phải trả cho PGD NHCSXH huyện V, tỉnh Bắc Giang số tiền gốc là 60.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 21/8/2023 là 1.303.599 đồng, cụ thể: Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo số tiền là 50.980.488 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 980.488 đồng; Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn số tiền là 10.323.111 đồng, trong đó tiền gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi là 323.111 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra anh P còn phải tiếp tục chịu lãi theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến ngày anh P thanh toán hết dư nợ cho PGD NHCSXH huyện V, tỉnh Bắc Giang.
[3] Về án phí: Anh Lê Văn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con và án phí DSST về nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326 NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang có yêu cầu độc lập đối với anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326 NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án Ngân hàng chính sách xã hội huyện V không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 55, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 - Luật hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 227 - Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
- Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: anh Lê Văn P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thu T1 sinh ngày 12/11/2005, chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thùy D sinh ngày 09/7/2007 và cháu Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010. Anh Lê Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Văn Đình P1 sinh ngày 02/11/2010 cho chị Nguyễn Thị T, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi cháu Lê Văn Đình P1 đủ tròn 18 tuổi, Anh Lê Văn P và chị Nguyễn Thị T có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh P và chị T thực hiện quyền này.
- Về công nợ chung: Anh Lê Văn P có nghĩa vụ trả cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang số tiền gốc là 60.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 21/8/2023 là 1.303.599 đồng, cụ thể: Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo số tiền là 50.980.488 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 980.488 đồng; Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường và nông thôn số tiền là 10.323.111 đồng, trong đó tiền gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi là 323.111 đồng. Tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến ngày anh Lê Văn P thanh toán hết dư nợ cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V, tỉnh Bắc Giang. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Anh Lê Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con và 3.065.179 đồng án phí DSST, tổng cộng 3.065.179 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm bẩy chín đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0006894 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Anh P còn phải nộp số tiền 2.765.179 đồng (Hai triệu bẩy trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm bẩy chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Tuyết |
Bản án số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 52/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh P ly hôn chị T
