Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/DS-ST

Ngày: 21 – 6 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Trang;
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2; địa chỉ trụ sở: Tầng A, 23, 24, Tòa nhà M, Số B T, phường N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Như T, sinh năm 1993; địa chỉ: 2 N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Mai Hữu S, sinh năm: 1980 và bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1987; cùng địa chỉ: E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát T1 và ông Mai Hữu S, bà Nguyễn Thị Kim N ký kết hợp đồng tín dụng số 948.238/2015/HĐTD-CN/PGBankBD ngày 26/8/2015 và phụ lục, khế ước nhận nợ. Ông Sbà N vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng, mục đích vay là tiêu dùng, lãi suất vay là 12,5%/năm tại thời điểm giải ngân lần đầu và lãi suất điều chỉnh 03 tháng 01 lần vào ngày đầu tiên của kỳ điều chỉnh. Lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Sbà N đã ký kết hợp đồng thế chấp số đất số 102.948/HĐTC/2015 ngày 10/4/2015 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số: PL01/102.948/HĐTC/2015 ngày 26/8/2015 thế chấp toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 378m² thuộc thửa 1806, tờ bản đồ số 28 tại địa chỉ E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08908/BC do UBND thị xã T cấp cho bà Nguyễn Thị Kim N ngày 07/8/2014.

Sau khi vay, bị đơn không thực hiện trả nợ đúng thỏa thuận nên khoản vay đã bị chuyển sang khoản nợ quá hạn và tính đến ngày 17/6/2024 bị đơn còn nợ số tiền 129.665.157 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 17.474.302 đồng và lãi quá hạn là 12.190.855 đồng nên nguyên đơn yêu cầu ông S, bà N phải trả toàn bộ khoản nợ nêu trên. Thời hạn thanh toán là ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán tiền lãi tính từ ngày 18/6/2024 đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết.

Trường hợp ông Sbà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn đuộc quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 378m² tại thửa 1806, tờ bản đồ số 28 tại địa chỉ E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08908/BC do UBND thị xã T cấp ngày 07/8/2014 cho bà Nguyễn Thị Kim N để thu hồi nợ.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh yêu cầu khởi kiện:

  • Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần X, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh B của Ngân hàng Thương mại cổ phần X, điều lệ của Ngân hàng Thương mại cổ phần X, Quyết định số 253/2023/QĐ-CTHĐQT, giấy ủy quyền; nghị quyết 1119/2019/NQ-HĐQT, hợp đồng tín dụng và Phụ lục hợp đồng số 948.238/2015, hợp đồng sửa đổi, bổ sung PL01/102.948/HĐTC/2015, khế ước nhận nợ số 948.238/2015/KUNN-CN/PG BankBD, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 102.948/HĐTC/2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH08908/BC.v.v.

Quá trình tố tụng, tại bản tự khai ngày 24/4/2024, bị đơn ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N trình bày:

Bị đơn thống nhất với toàn bộ trình bày của nguyên đơn về việc hai bên ký kết hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và hợp đồng thế chấp đất nêu trên để vay số tiền 300.000.000 đồng. Sau khi vay, do gặp khó khăn về kinh tế nên chưa thanh toán đúng hạn cho ngân hàng, còn nợ số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn. Bị đơn đồng ý thanh toán toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng và xin được trả dần hàng tháng như hợp đồng đã ký kết. Trường hợp không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền nêu trên để thu hồi nợ và xin được vắng mặt suốt quá trình tố tụng.

Các tài liệu, chứng cứ bị đơn giao nộp: Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cước công dân ông S, bà N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 129.665.157 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 17/6/2024 gồm nợ lãi trong hạn là 17.474.302 đồng và lãi quá hạn là 12.190.855 đồng. Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi tính từ ngày 18/6/2024 đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với nguyên đơn.

Trường hợp ông Sbà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền có quyền phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 378m² tại thửa 1806, tờ bản đồ số 28 tại địa chỉ E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08908/BC do UBND thị xã T cấp ngày 07/8/2014 cho bà Nguyễn Thị Kim N để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát T1 khởi kiện ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N cư trú tại: E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), nay là Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát T1 và ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N ký kết hợp đồng tín dụng số 948.238/2015/HĐTD-CN/PGBankBD ngày 26/8/2015 và khế ước nhận nợ. Ông Sbà N vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng, mục đích vay là tiêu dùng, lãi suất vay là 12,5%/năm tại thời điểm giải ngân lần đầu và lãi suất điều chỉnh 03 tháng 01 lần vào ngày đầu tiên của kỳ điều chỉnh. Lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn. Sau khi được giải ngân, bị đơn đã sử dụng số tiền vay nhưng không thực hiện trả nợ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn và tính đến ngày 17/6/2024 ông Sbà N đã trả được nợ gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 168.095.589 đồng, tiền lãi quá hạn là 7.404.871 đồng và còn nợ 129.665.157 đồng gồm gốc là 100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 17.474.302 đồng và lãi quá hạn 12.190.855 đồng. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ số tiền 129.665.157 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với tiền lãi, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 18/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên. Xét thấy, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với yêu cầu, trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì nguyên đơn đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 378m² tại thửa 1806, tờ bản đồ số 28 tại địa chỉ E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08908/BC do UBND thị xã T cấp ngày 07/8/2014 cho bà Nguyễn Thị Kim N theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 102.948/HĐTC/2015 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PL01/102.948/HĐTC/2015 ngày 26/8/2015. Yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với Điều 355 của Bộ luật Dân sự năm 2005 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ các phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn N hàngThương mại cổ phần Xăng dầu X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát Triển đối với bị đơn ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, buộc ông S, bà N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát T1 số tiền nợ tính đến ngày 17/6/2024 là 129.665.157 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng, nợ lãi 29.665.157 đồng.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, số tiền 2.000.000 đồng, bị đơn phải chịu. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước nên bị đơn có trách nhiệm phải trả cho nguyên đơn.

[9] Án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả nợ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 355, Điều 471, Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • - Điều 90, Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N.
  2. - Buộc ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát Triển số tiền nợ tính đến ngày 17/6/2024 là 129.665.157 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng, nợ lãi 29.665.157 đồng.

    - Ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát Triển tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 948.238/2015/HĐTD-CN/PGBank BD ngày 26/8/2015 kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

    Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát Triển có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp là bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 378m² tại thửa 1806, tờ bản đồ số 28 tại địa chỉ E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08908/BC do UBND thị xã T cấp cho bà Nguyễn Thị Kim N ngày 07/8/2014, theo hợp đồng thế chấp số đất số 102.948/HĐTC/2015 ngày 10/4/2015 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số: PL01/102.948/HĐTC/2015 ngày 26/8/2015.

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, số tiền 2.000.000 đồng, ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N phải chịu. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát T1 đã nộp tạm ứng trước nên ông S, bà N có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  5. - Ông Mai Hữu Sbà Nguyễn Thị Kim N phải chịu 6.483.257 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    - Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (P), tên mới: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 và Phát Triển số tiền 3.088.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001108 ngày 05/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Khánh Linh

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 52/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger