Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thanh Nhàn và ông Nguyễn Thanh Xuân.

Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Chức danh: Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Đình Thi - Chức danh: Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Hồng T (tên gọi khác: không), giới tính: nam. Sinh ngày 26/4/1985, tại: M, Hưng Yên. Nơi thường trú: khu H, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Vũ Quang T1 và bà Nguyễn Thị T2. Vợ: Nguyễn Thị H. Bị cáo có 01 con, sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 24/01/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Trung K (tên gọi khác: không), giới tính: nam. Sinh ngày 16/02/1987, tại: P, Thái Nguyên. Nơi thường trú: xóm N, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn C và bà Trương Thị D. Vợ: Nguyễn Thị D1. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.

2

* Những người làm chứng: chị Đào Thị Nguyệt M, anh Hoàng Chiến T3, anh Trần Quốc H1 - đều vắng mặt.

* Người chứng kiến: anh Đoàn Anh T4 - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung K nghiện ma túy H2 từ năm 2018 và thường mua ma túy Heroine của một nam thanh niên tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) để sử dụng. Khoảng đầu tháng 01/2024, N có đặt vấn đề nhờ K là nếu có ai hỏi mua ma túy H2 thì giới thiệu cho N. K đồng ý và nảy sinh ý định nếu ai hỏi mua ma túy thì K sẽ lấy ma túy của N rồi cắt lại một ít để sử dụng và đưa số ma túy còn lại cho người mua. Khoảng 09 giờ ngày 22/01/2024, Vũ Hồng T gọi điện cho K hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy Heroine nên K đã liên lạc với N nói có người muốn mua ma túy. N yêu cầu chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản Ngân hàng B số 8850080516 mang tên “TRAN QUOC HUY”. Sau đó, K nhắn tin bảo T chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản trên rồi hẹn Thượng đến khu vực đường cao tốc gần cầu R thuộc thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để nhận ma túy. Sau khi chuyển tiền, T đón xe khách đi thành phố P để đến nơi hẹn. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T đến nơi hẹn rồi gọi K ra đón. K gọi điện bảo N đưa ma túy cho K thì N hẹn đến khu vực cầu R để nhận ma túy. Sau khi nhận được ma túy từ N, K cắt lại một tí để sử dụng rồi đi đến nơi hẹn và đưa số ma túy còn lại cho T. Sau khi giao dịch xong, K đã sử dụng hết số ma túy trên.

Sau khi nhận được ma túy, T đón xe khách về phòng trọ thuộc khu C, phường H, thành phố M rồi chia số ma túy mua được thành 22 gói nhỏ. T đã sử dụng hết 02 gói, còn 20 gói ma túy còn lại thì T cất giấu tại phòng trọ của T để vừa sử dụng, vừa bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ ngày 24/01/2024, Hoàng Chiến T3 (sinh năm 1975, trú tại khu T, phường H, thành phố M) gọi điện cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Thượng hẹn T3 đến khu vực ngõ A T thuộc khu C, phường H thành phố M để giao dịch. Sau đó, T lấy một ít ma túy trong 01 gói ma túy rồi cho vào một mảnh giấy và mang đến nơi hẹn bán cho T3 với giá 300.000 đồng. Số ma túy còn lại trong gói ma túy trên T đã sử dụng hết. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T3 tiếp tục gọi điện cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine và hẹn đến địa điểm trên để giao dịch. Sau đó, T lấy 04 gói ma túy cho vào ví, 01 gói ma túy cho vào túi áo khoác bên phải và 01 gói ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi đến điểm hẹn. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đi bộ đến khu vực đối diện số nhà A, đường T thuộc khu C, phường H, thành phố M thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng H3 phối hợp với Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế M1 phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ của T: 06 gói nilon màu trắng, bên trong mỗi gói nilon đều có một gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (kí hiệu từ

3

M1 đến M6); 01 ví giả da màu đen và 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Promax, lắp sim 0393.889.628.

Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại phòng trọ số 01, số nhà A, ngách A, ngõ B thuộc khu C, phường H, thành phố M, phát hiện, thu giữ của T: Trên tủ nhựa trước giường nằm của T 01 lọ nhựa màu trắng đỏ hình trụ, bên ngoài có chữ “Extra”, bên trong lọ chứa 13 gói nilon màu trắng trong suốt, được hàn dính, bên trong mỗi gói đều có bọc gói giấy màu trắng, đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (kí hiệu từ M7 đến M19).

Ngày 02/02/2024, biết hành vi phạm tội đã bị phát hiện, Nguyễn Trung K đầu thú tại Công an thành phố M và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, gắn sim số 0979.497.688.

Tại bản kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật từ M1 đến M19 gửi giám định là ma túy, loại Heroinee. Khối lượng cụ thể: M1: 0,109gam, M2: 0,068 gam, M3: 0,117 gam, M4: 0,09 gam, M5: 0,085 gam, M6: 0,127 gam, M7: 0,106 gam, M8: 0,106 gam, M9: 0,099 gam, M10: 0,092 gam, M11: 0,104 gam, M12: 0,092 gam, M13: 0,087 gam, M14: 0,104 gam, M15: 0,101 gam, M16: 0,093 gam, M17: 0,104 gam, M18: 0,115 gam và M19: 0,118 gam. Tổng khối lượng là 1,917 gam (một phẩy chín một bảy gam).

Quá trình điều tra, Nguyễn Trung KVũ Hồng T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Trung KVũ Hồng T, lượng ma tuý Thượng mua được của K, T mang về chia nhỏ thành 22 gói nhỏ. Mặc dù, T đã sử dụng hết 02 gói và bán 01 gói không thu giữ được nhưng K phải chịu trách nhiệm về tổng cả 22 gói (bao gồm 19 gói thu giữ được của T và 03 gói đã bán và sử dụng hết). Theo nguyên tắc có lợi, truy xét, xác định khối lượng 03 gói được tính bằng cách lấy khối lượng của gói nhỏ nhất thu giữ được là 0,068 gam (M2) nhân 03 lần. Vậy khối lượng ma tuý K phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,917 + (0,068x3) = 2,121 gam.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 14 giờ 00 phút, ngày 24/01/2024 của Đồn biên phòng Hải Hòa - Bộ đội biên phòng H3 thể hiện: hồi 13 giờ 45 phút, ngày 24/01/2024, Tổ công tác đồn biên phòng H3 và cửa khẩu quốc tế M1, làm nhiệm vụ tại khu vực đối diện số nhà A, T, khu C, phường H, thành phố M phát hiện một nam giới, mặc áo khoác màu đỏ, quần thu đông màu đen trắng có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, có sự chứng kiến của anh Đoàn Anh T4, sinh năm 1982, trú tại: khu A, phường T thành phố M chứng kiến việc kiểm tra. Quá trình kiểm tra người nam giới xuất trình căn cước công dân và khai tên Vũ Hồng T, sinh ngày 26/4/1985, Nơi thường trú: khu H, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, nơi ở hiện nay: phòng trọ số 1, số nhà A, ngách A, ngõ B, thuộc khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi áo bên phải của T đang mặc có 01 túi nilon màu trắng trong suốt được hàn dính có kích thước (2,2cm x

4

1,1cm), bên trong túi nilon có chứa 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy), tại túi áo bên trái của T có 01 gói nilon màu trắng trong suốt được hàn dính có kích thước (19cm x 0,9cm), bên trong túi nilon có chứa 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy); tại túi quần dài phía trước bên phải của T đang mặc có 01 chiếc ví màu đen (bằng da), bên trong ví có 04 (bốn) túi nilon màu trắng trong suốt hàn dính lần lượt có kích thước (2,0cmx 1,0cm; 2,4cm x 1,4cm; 1,9cm x 1,3cm; 1,9cm x 1,0cm), bên trong mỗi túi nilon trên đều chứa 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong các gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy). Tại thời điểm kiểm tra T khai nhận chất bột màu trắng dạng cục trong các gói nilon trên đều là ma túy loại Heroine của T mua từ thành phố P, tỉnh Thái Nguyên về với mục đích bán kiếm lời và để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ vật chứng là các túi nilon có chứa ma túy cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Promax, đã qua sử dụng theo quy định.

Anh Hoàng Chiến T3 có lời khai: khoảng 12 giờ ngày 24/01/2024 do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên anh đã gọi điện thoại cho Vũ Hồng T, sinh năm 1985. Chỗ ở: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để hỏi mua của T 300.000 đồng ma túy, T hẹn T3 đến khu vực gần Đồn biên phòng H3, thành phố M để giao dịch ma túy. Sau đó T3 đi đến ngõ A, đường T, phường H, thành phố M thì gặp T và mua 01 gói ma túy loại Heroine của T với số tiền 300.000 đồng, số ma túy này T3 đã sử dụng hết cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày T3 tiếp tục gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy với số tiền 300.000 đồng thì được T hẹn đến khu vực cổng chào khu C, phường H, thành phố M để giao dịch mua ma túy. Tuy nhiên, khi đến điểm hẹn thì không gặp được T. Bản thân T3 thừa nhận nhiều lần mua ma túy của Thượng để sử dụng nhưng không nhớ cụ thể từng lần với số tiền bao nhiêu.

Chị Đào Thị Nguyệt M có lời khai: chị là người chuyên kinh doanh dịch vụ chuyển tiền. Trong quá trình kinh doanh có Vũ Hồng T đến để yêu cầu chị chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản của người mang tên Trần Quốc H1, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, số tài khoản Ngân hàng B. Còn việc T chuyển khoản làm gì thì không nói cho chị biết.

Anh Trần Quốc H1 có lời khai: anh có số tài khoản 8850080516 mở tại Ngân hàng B. Tuy nhiên đã lâu anh không dùng và anh đã cho người khác không quen biết, không rõ lai lịch thuê lại. Do đó việc họ chuyển tiền hay làm gì thì anh không nắm được. Việc có đối tượng mua bán trái phép chất ma túy rồi lấy tài khoản anh cho thuê để giao dịch anh hoàn toàn không biết và không liên quan.

Người chứng kiến anh Đoàn Anh T4 có lời khai: khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 24/01/2024 anh được các cán bộ đồn Biên phòng cửa khẩu M1 mời chứng kiến tại khu vực đường T, thuộc khu C, phưởng H, thành phố M lục lượng Biên

5

phòng kiểm tra, bắt quả tang 01 người đàn ông khai tên là Vũ Hồng T, sinh năm 1985. Nơi thường trú: khu H, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, nơi ở hiện nay: phòng trọ số 1, số nhà A, ngách A, ngõ B, thuộc khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, có hành vi cất giấu trái phép chất nghi là ma tuý, T khai nhận là ma tuý Heroine của T cất giấu mục đích đem đi bán và chứng kiến việc thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản như trên.

Bản cáo trạng số 702/CT-VKSMC ngày 03/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố Vũ Hồng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố Nguyễn Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Hồng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật HìnhBị cáo Nguyễn Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hìnhsự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/01/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/02/2024.

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy 0,98 gam Heroine cùng các vỏ, bao, gói hoàn lại sau giám định; 01 lọ nhựa, 01 ví da và 02 phôi sim số 0393.889.628, 0979.497.688.

+ Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Promax màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

Buộc bị cáo T nộp 300.000 đồng, bị cáo K nộp 5.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

- Phần tranh luận:

Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Hồng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Vũ Hồng TNguyễn Trung K hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

[3] Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người làm chứng, chứng kiến, vật chứng vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ ngày 22/01/2024, tại khu vực cầu R thuộc thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Trung K có hành vi bán trái phép 2,121 gam ma tuý Heroine cho Nguyễn Hồng T5 để hưởng lợi một phần ma túy để sử dụng.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, tại khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Hồng T có hành vi bán cho Hoàng Chiến T3 01 lần 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, T tiếp tục mang ma tuý đi bán cho T3 500.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng phát hiện, bắt quả tang. Khám xét người và nơi ở của T tại khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh phát hiện thu giữ tổng khối lượng 1,917gam Heroine mục đích để bán kiếm lời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Hồng T đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Trung K đã phạm vào tội “Mua bán phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

7

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...b) Phạm tội 02 lần trở lên;”...

Ma túy là một loại độc dược rất nguy hiểm, nó tàn phá, hủy hoại sức khỏe, nhân cách và tính mạng con người, làm lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Nhà nước quy định độc quyền quản lý chất ma túy, bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.

Bị cáo Vũ Hồng TNguyễn Trung K là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật. Nhưng do ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân kém, bất chấp điều cấm của pháp luật nên đã tìm mua ma túy để bán kiếm lời lấy tiền tiêu sài cho bản thân. Hành vi của các bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt.

[4] Xét về vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

- Xét vai trò từng bị cáo trong vụ án thấy các bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy để kiếm lời độc lập với nhau nên phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập theo hành vi phạm tội của mỗi bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tiền án tiền sự chưa có. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Do đó, bị cáo K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự có thể phạt các bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước nhưng xét các bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng: đối với 01 phong bì số 184/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định, xét đây là chất Nhà nước cấm nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu của T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphone, màu đen, gắn sim số 0393.889.628; thu của K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu hiệu OPPO, màu đen, gắn sim số 0979497688, xét các bị cáo dùng vào việc giao dịch mua bán ma túy nên cần

8

tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra còn truy thu sung ngân sách Nhà nước của Thượng số tiền 300.000 đồng bị cáo bán ma túy cho T3.

Tại phiên Tòa và quá trình điều tra bị cáo K chỉ khai người bán hộ ma túy cho đối tượng N và đã chuyển tiền cho N nhưng không chứng minh được con người, địa chỉ, lai lịch nhân thân của N nên K phải chịu trách nhiệm về số tiền bán ma túy cho T. Do đó truy thu của K số tiền 5.000.000 đồng tiền bán ma túy cho T sung ngân sách Nhà nước.

[7] Các tình tiết khác của vụ án: đối với đối tượng N đã bán ma túy cho K, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Quá trình điều tra làm rõ chủ của tài khoản Ngân hàng B số 8850080516 mang tên “TRAN QUOC HUY” là của anh Trần Quốc H1, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, anh H1 đã cho một người (không rõ lai lịch, địa chỉ) thuê sử dụng tài khoản trên và không biết nội dung mua bán ma túy giữa N, K và T nên không đề cập xử lý.

Đối với Hoàng Chiến T3 có hành vi đặt mua ma túy của Thượng 02 lần vào ngày 24/01/2024 nhưng số ma túy mua lần 01 T3 đã sử dụng hết và lần 02 giao dịch chưa thực hiện được nên Công an thành phố M đã lập hồ sơ xử phạt hành chính.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải nộp theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Vũ Hồng T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trung K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+) Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì số 184/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định.

9

+) Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen gắn sim số 0393.889.628; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen gắn sim số 0979497688.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 94/2024/THA, ngày 04/6/2024 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

+) Buộc bị cáo Nguyễn Trung K nộp số tiền 5.000.000 đồng và bị cáo Vũ Hồng T nộp số tiền 300.000 đồng, sung Ngân sách Nhà nước.

- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Hồng TNguyễn Trung K mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Móng Cái;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án số 52
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger