Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - AN GIANG

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày 12 tháng 11 năm 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa và ông Đỗ Ngọc Nam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn C, sinh ngày 24/02/1996. Nơi cư trú: ấp T, xã V, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn V, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Kim A, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 23/01/2000; con: Đặng Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đức D (Tí), sinh ngày 02/4/1998. Nơi cư trú: ấp V, xã V, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước H (đã chết) và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Huỳnh Văn Đ (D1), sinh ngày 15/5/1985. Nơi cư trú: ấp V, xã V, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T2 (đã chết) và bà Cao Thị Đ1, sinh năm 1951; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Huỳnh Thị T1, sinh ngày 01/01/1968. Nơi cư trú: ấp V, xã V, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Huỳnh Thanh T3, sinh ngày 30/9/1987. Nơi cư trú: ấp V, xã V, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị Thúy N (có mặt).
  2. Ông Lý Văn X (có mặt).
  3. Ông Huỳnh Văn P (vắng mặt).
  4. Anh Lê Nhựt H1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 28/4/2025, Công an thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (nay là Công an xã P, tỉnh An Giang) nhận được tin báo của người dân qua điện thoại tại Phòng số 02, Nhà trọ Lê Hoàng của Lê Nhựt H1 ở khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã P, tỉnh An Giang) có người mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an thị trấn P tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Đức D đang đưa cho Huỳnh Văn Đ 01 bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng bên ngoài quấn băng keo trắng (nghi là ma túy - Mẫu M3) và thu giữ của D 01 bọc nilon trong suốt, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy - Mẫu M2). Đồng thời kiểm tra phòng của Đặng Văn C thu giữ 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy - Mẫu M₁) cùng nhiều vật chứng liên quan khác nên đưa C, D, Đ về trụ sở Công an thị trấn P làm việc.

Tại đây, Đặng Văn C, Nguyễn Đức D, Huỳnh Văn Đ cùng khai nhận: Ngày 27/4/2025, C đến phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường M, tỉnh An Giang) gặp người tên Đ2 (chưa rõ nhân thân) mua 1.500.000 đồng ma túy đá đem về Phòng số 02, Nhà trọ Lê H1 phân chia nhỏ để bán lại. Đến khoảng 15 giờ ngày 28/4/2025, D điện thoại cho C để lấy điện thoại gửi sửa trước đó và hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, C đồng ý và nhờ D mua nước đá. Sau đó, C lấy bọc ma túy mua của Đ2 rồi dùng 01 đoạn ống hút nhựa, trong suốt, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn chiết ma túy ra bọc nilon để trên bàn để bán cho D. Khoảng 16 giờ cùng ngày, D mượn xe mô tô biển số 67F4-5288 của mẹ ruột là Huỳnh Thị T1 điều khiển đến phòng của C đưa nước đá cho C rồi D đi hớt tóc. Lúc này, Đ điện thoại qua ứng dụng Zalo cho C mua 300.000 đồng ma túy, C đồng ý. Của tiếp tục lấy bọc ma túy mua của Đ2 chiết ra

bọc nilon rồi dùng băng keo trắng quấn lại dán bên hong tủ nhựa trong phòng của C. Sau đó, D trở lại gặp C nhận bọc nilon chứa ma túy cất giấu trong túi quần nhưng chưa lấy tiền và D ngồi chơi. Khoảng 10 phút sau, Đăng mượn xe mô tô biển số 67K6-0914 của em ruột Đ là Huỳnh Thanh T3 điều khiển đến gặp C nhận ma túy. Lúc này, C đang ngồi sửa ná thun nên nhờ D đứng gần tủ nhựa, nơi C dán bọc ma túy trước đó lấy đưa cho Đ nhưng C không nói cho D biết là ma túy. Sau đó, D lấy bọc nilon đưa cho Đ thì bị Lực lượng Công an thị trấn P đến phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra, C còn khai nhận vào chiều ngày 25/4/2025, C bán ma túy cho Đ số tiền 200.000 đồng, giao nhận ma túy, tiền tại phòng trọ của C.

Ngày 07/5/2025, C, D, Đ bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 bọc nilon trong suốt, một đầu có rãnh kéo màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy - Mẫu M₁); 01 bọc nilon trong suốt, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy - Mẫu M2); 01 bọc nilon trong suốt, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy - Mẫu M3), bên ngoài quấn băng keo trắng; 01 xe mô tô biển số 67K6-0914, màu đỏ, nhãn hiệu Wave@, số máy 007440, số khung 010193; 01 xe mô tô biển số 67F4-5288, màu tím nho, nhãn hiệu Dream, số máy 1684161, số khung 683585; 01 điện thoại di động màu đen, hiệu S A03; 01 điện thoại di động màu đen - xanh, hiệu Vivo Y53s; 01 điện thoại di động màu đen, hiệu REDMI 13; Tiền Việt Nam 4.840.000 đồng; 01 túi nhựa màu đen, hình chữ nhật, có dây khóa màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa, trong suốt, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 02 bọc nilon màu trắng, trong suốt, hình chữ nhật; 01 bình hút tự chế bằng nhựa, nắp chai màu đỏ có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương nhạt và 01 ống thủy tinh có đầu gù tròn; 01 quẹt khè và 01 dụng cụ mồi lửa.

Tại Bản Kết luận giám định số 629/KL-KTHS ngày 05/5/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M₁ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,6763 gam; Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,1251 gam; Mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,1612 gam.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSKV10, ngày 17/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã truy tố bị cáo Đặng Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Đức D, Huỳnh Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn C, Nguyễn Đức D, Huỳnh Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người làm chứng ông Lý Văn X, Huỳnh Văn P trình bày: năm 1998, X mua xe mô tô biển số 67F4-5288; năm 2004, P mua xe mô tô biển số 67K6-0914 đứng tên chủ sở hữu, quản lý sử dụng. Sau đó, X, P bán xe lại cho người

không rõ họ tên nhưng chưa sang tên chủ sở hữu và do xe đã bán nên X, P không yêu cầu gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T1 (mẹ của D) trình bày: cách nay khoảng 10 năm, Nguyễn Phước H (chồng của T1, hiện nay đã chết) mua xe mô tô biển số 67F4-5288 nhưng chưa sang tên chủ sở hữu làm phương tiện đi lại. Ngày 28/4/2025, D lấy xe đi mua ma túy thì T1 không biết nên T1 yêu cầu nhận lại xe mô tô.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thanh T3 (em ruột của Đ) trình bày: khoảng tháng 01/2025, T3 mua xe mô tô biển số 67K6-0914 của người anh không rõ họ tên nhưng chưa sang tên chủ sở hữu. Ngày 28/4/2025, Đ mượn xe đi mua ma túy thì T3 không biết. T3 yêu cầu nhận lại xe mô tô.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Văn C mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điểu 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Đặng Văn C, Nguyễn Đức D, Huỳnh Văn Đ nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thanh T3 và người làm chứng Huỳnh Văn P, Lê Nhựt H1 đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra,

những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 25/4/2025, tại khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã P, tỉnh An Giang) Đặng Văn C có hành vi bán ma túy cho Huỳnh Văn Đ số tiền 200.000 đồng.

Ngày 28/4/2025, tại khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã P, tỉnh An Giang) Đặng Văn C bán 0,1251 gam ma túy, loại Methamphetamine cho Nguyễn Đức D và bán 0,1612 gam ma túy, loại Methamphetamine cho Huỳnh Văn Đ để D, Đăng tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; Đặng Văn C tàng trữ 1,6763 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán, bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Văn C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Bị cáo Nguyễn Đức D, Huỳnh Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là những người trưởng thành, có khả năng nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi và để thỏa mãn cơn nghiện nên các bị cáo cố tình thực hiện, đều này chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội từng bị cáo.

Đối với bị cáo Đặng Văn C, ngày 25/4/2025, bị cáo dùng số ma túy “đá” (Methamphetamine) mua trước đó của người tên Đ2 (không rõ nhân thân) để sử dụng và phân lẻ ra bán lại cho Huỳnh Văn Đ số tiền 200.000 đồng để hưởng lợi.

Ngày 27/4/2025, bị cáo tiếp tục mua 01 (một) bọc ma túy “đá” của Đ2, với số tiền 1.000.000 đồng, đem về phòng trọ bị cáo cất giấu, phân lẻ ra bán cho Nguyễn Đức D khối lượng 0,1251 gam, với số tiền 200.000 đồng; bán cho Huỳnh Văn Đ khối lượng 0,1612 gam, với số tiền 300.000 đồng; ngoài ra bị cáo còn cất giấu khối lượng 1,6763 gam chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Trong thời gian ngắn, bị cáo đã thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần, thể hiện tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra.

Đối với bị cáo Nguyễn Đức D và Huỳnh Văn Đ là những người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra các bị cáo phải lao động chân chính để tạo ra của cải, vật chất nuôi sống bản thân và giúp ích cho gia đình, nhưng các bị cáo cố ý thực hiện tàng trữ trái phép chất ma túy (Duy tàng trữ 0,1251 gam, Đăng tàng trữ 0,1612 gam) để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân. Vì vậy, bị cáo D và bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Đặng Văn C, quá trình điều tra vụ án đã tự nguyện khai ra lần bán trái phép ma túy cho bị cáo Đ vào ngày 25/4/2025. Đây là tình giảm nhẹ theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mặc dù các bị cáo phạm tội lần đầu, nhưng về tính chất vụ án thì nghiêm trọng. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với Đặng Văn C tàng trữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bình hút tự chế bằng nhựa, nắp chai màu đỏ có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương nhạt và 01 ống thủy tinh có đầu gù tròn); 01 quẹt khè và 01 dụng cụ mồi lửa do chưa đủ định lượng và Của chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Đức D không biết bịch nilon quấn băng keo trắng giao cho Đ là ma túy và D cũng không hưởng lợi vật chất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A không xem xét xử lý D với vai trò đồng phạm về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Người tên Đ2 bán ma túy cho C do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là ma túy cấm lưu hành và các vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là điện thoại di động, liên quan đến hành vi phạm tội các bị cáo nên tuyên bố tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với các xe mô tô không liên quan hành vi phạm tội các bị cáo nên tuyên trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với số tiền 4.840.000 đồng, cần phân hóa ra xử lý như sau: số tiền 4.340.000 đồng thu giữ của bị cáo D, không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo D. Số tiền 200.000 đồng thu giữ bị cáo D và 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ, đây là số tiền các bị cáo dùng để mua ma túy của bị cáo C, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức D (Tí), Huỳnh Văn Đ (D1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, điểm r khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/4/2025).

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D (Tí) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/4/2025). Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ (D1) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/4/2025).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số 629/KL-KTHS ngày 05/5/2025, kí hiệu M₁), có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Nguyễn Thanh T4. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng 1,6638g (một phẩy sáu sáu ba tám gam); 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số 629/KL-KTHS ngày 05/5/2025, kí hiệu M2), có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Nguyễn Thanh T4. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng 0,1149g (không phẩy một mộ bốn chín gam); 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số 629/KL-KTHS ngày 05/5/2025, kí hiệu M3), có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Nguyễn Thanh T4. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định, có khối lượng 0,1453g (không phẩy một bốn năm ba gam); 02 (hai) bọc nilon màu trắng, trong suốt, hình chữ nhật (đã qua sử dụng); 01 (một) túi nhựa màu đen, hình chữ nhật, có dây khóa màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) bình hút tự chế bằng nhựa, nắp chai màu đỏ có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh dương nhạt và 01 (một) ống thủy tinh có đầu gù tròn (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa, trong suốt, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) quẹt khè và 01 (một) dụng cụ mồi lửa (đã qua sử dụng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức D số tiền 4.340.000 đồng (bốn triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng) theo Ủy nhiệm chi đến tài khoản số 3949.0.1054197.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Trả lại cho bà Huỳnh Thị T1 01 (một) xe mô tô biển số 67F4-5288 màu tím nho, nhãn hiệu Dream, số máy: 1684161, số khung: 683585 (đã qua sử dụng). Trả lại cho ông Huỳnh Thanh T3 01 (một) xe mô tô biển số 67K6-0914 màu đỏ, nhãn hiệu Wave@, số máy: 007440, số khung: 010193 (đã qua sử dụng)

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 200.000 đồng của bị cáo Nguyễn Đức D, số tiền 300.000 đồng của bị cáo Huỳnh Văn Đ theo Ủy nhiệm chi đến tài khoản số 3949.0.1054197.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO Y53s, màu xanh - đen, số IMEI1: 560420059911635, số IMEI2: 560420059911627; 01 (một) điện thoại di động hiệu S A03, màu đen, có serial: R9HT102W34F, số IMEI1: 350538284589988, số IMEI2: 359923674589981; 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI 13, màu đen, số IMEI1: 860777079411502, số IMEI2: 860777079411510 (điện thoại được niêm phong trong phòng bì màu trắng, có dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hoàng P1).

(Đặc điểm tang vật như Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 10/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang)

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí

Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Văn C, Nguyễn Đức D (Tí), Huỳnh Văn Đ (D1) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 10 - An Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan THAHS-Công an tỉnh An Giang;
  • - Phân trại tạm giam Cô Tô (cơ sở 3);
  • - Phòng THADS khu vực 10 - An Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn C và Đp phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger