Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 52/2025/HS-PT

Ngày: 14 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Nam.

Các Thẩm phán: ông Phạm Văn Tâm; ông Hồ Văn Cường.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Mỹ Hương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Út Nhỏ – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 14 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Quốc D; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Quốc D; sinh ngày 24/02/2008 (tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tôi bị cáo 16 tuổi 5 tháng 29 ngày), tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá (học vấn) 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Thùy L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 21/10/2024 đến nay tại xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Quốc D:

  • + Ông Lê Văn T, sinh năm 1973, nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, nghề nghiệp: Làm ruộng, là cha của bị cáo; có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1973, nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, nghề nghiệp: Công nhân, là mẹ của bị cáo; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Quốc D: Ông Trần Thế Hòa B – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Đại diện nhà trường nơi bị cáo Lê Quốc D học tập: Ông Nguyễn Văn K – Chức vụ: Phó Hiệu trưởng Trường T4, địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 21/8/2024, Lưu Anh V, Lê Quốc D và Lê Dương Duy P sinh ngày 30/11/2008, Nguyễn Trung Nguyên S ngày 14/10/2008, cùng ngụ huyện B, tỉnh Tây Ninh, Lê Bảo N sinh ngày 30/8/2009, ngụ thị xã T, tỉnh Tây Ninh đến khu vực xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh uống bia. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/8/2024 thì tất cả điều khiển xe môtô đi về nhà. Khi đến khu vực Thánh thất P thuộc xã P, thị xã T thì bị nhóm Nguyễn Trần T1, Phạm Văn D1, Nguyễn Thành L1, Hà Trọng N1, Nguyễn Gia H, Nguyễn Quang T2 chặn đường rượt đuổi ném vỏ chai nước ngọt nhưng không gây thương tích. Vỹ, Quốc D, P, N, N2 điều khiển đi trên 02 xe môtô chạy thoát về đến khu vực cây xăng L2 thuộc ấp C, xã A, huyện B thì dừng xe trên đường nói chuyện. Tại đây, V rủ Quốc D, P, N, N2 đi tìm nhóm của Tam chém trả thù, thì tất cả đồng ý; V kêu ai có hung khí thì về lấy, P về nhà lấy 01 cây dao tự chế (dạng kiếm) rồi rủ Châu Khánh S1 sinh ngày 14/02/2009, ngụ huyện B, tỉnh Tây Ninh cùng tham gia đi đánh nhau, thì S1 đồng ý. Sau đó, nhóm của V về nhà của N lấy 01 cây dao tự chế (dạng kiếm) rồi tiếp tục đến nhà gặp Phạm Nhựt H1 sinh ngày 28/4/2010, ngụ ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh để lấy thêm 01 cây dao tự chế (dạng kiếm). Sau đó, N2 điều khiển xe môtô biển số 70D1-231.54 chở P ngồi giữa cầm 01 dao tự chế, V ngồi sau cầm 01 dao tự chế; Quốc D điều khiển xe môtô biển số 70H1-591.88 chở N ngồi giữa cầm 01 dao tự chế, S1 ngồi sau không cầm hung khí chạy qua, chạy lại trên đường D lượt theo hướng từ xã P, thị xã T đến xã A, huyện B và quay ngược về để tìm nhóm của Tam chém trả thù. Trên đường đi tìm nhóm của T1 thì Quốc D và N2 điều khiển xe rú ga liên tục, V, P, N kéo lê hung khí trên đường tạo ra tia lửa để kích động nhóm của T1, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Sau khi T1, D, L1, N1, H, T2 chặn đường rượt đuổi ném vỏ chai nước ngọt vào nhóm của V thì tất cả điều khiển đi trên 02 xe môtô quay về nhà T2 nói chuyện được một lúc thì nhìn thấy nhóm của V đi trên 02 xe môtô chạy qua chạy lại trên đường nhiều lần nên T1 rủ D, L1, N1, H, T2 lấy hung khí rượt đuổi theo chém nhóm của V, thì tất cả đồng ý. T2 về nhà lấy 02 cây dao tự chế cán dài bằng kim loại (dạng cây đao), D đến nhà T2 lấy 01 cây rựa cán dài, H về nhà lấy 01 cây vũ ba khúc bằng kim loại, N1 về nhà lấy 01 cây ba chỉa bằng kim loại. Sau đó, T2 điều khiển xe môtô biển số 70LA-097.58 chở D ngồi giữa cầm 01 cây rựa cán dài, H ngồi sau cầm 01 cây vũ ba khúc bằng kim loại; N1 điều khiển xe môtô

biển số 70LA-064.25 chở L1 ngồi giữa cầm 01 cây ba chỉa bằng kim loại và 01 cây dao tự chế, T1 ngồi sau cầm 01 cây dao tự chế chạy xe trên đường theo hướng từ xã P, thị xã T đến Tỉnh lộ 786 rồi ra Quốc lộ B chạy về hướng ngã ba xã A, huyện B để chặn hướng đi của nhóm V. Trên đường đi tìm nhóm của V thì N1, T2 điều khiển xe rú ga liên tục, T1, L1, H kéo lê hung khí trên đường tạo ra tia lửa, D đưa rựa lên cao, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đến khu vực gần ngã ba A thuộc ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì nhóm của T1 nhìn thấy nhóm của V điều khiển xe môtô rú ga liên tục, kéo lê hung khí trên đường lưu thông theo hướng ngược lại. Hai nhóm chạy qua nhau rồi cùng quay đầu xe lại, Quốc D bị T2 chặn xe lại nên Quốc D điều khiển xe lách qua phải để bỏ chạy thì bị D cầm cây rựa cán dài bằng hai tay đưa lên cao chém 01 cái từ trên xuống trúng vào cổ tay trái của Quốc D gây thương tích nên xe của Quốc D chao đảo ngã xuống đường. Lúc này, N2 điều khiển xe chở P và V bỏ chạy, N ném hung khí trên đường rồi cùng S1 bỏ chạy thoát; Quốc D bỏ chạy bộ được một đoạn thì N1 đuổi theo chặn lại để H dùng cây vũ ba khúc, L1 dùng chân đánh, đá vào hông phải của Quốc D gây chấn thương phần mềm rồi tất cả lấy hung khí điều khiển xe môtô chạy về nhà rồi bỏ trốn, sau đó T1, D, L1, N1, H, T2 ra đầu thú. Quốc D sau khi bị đánh thương tích thì được người dân đưa đến Bệnh viện X cấp cứu và điều trị, sau đó xuất viện. Ngày 25/8/2024, Lê Quốc D có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T1, D, L1, N1, H, T2.

Ngày 22/8/2024, Ủy ban nhân dân xã A, ông Nguyễn Văn T3 sinh năm 1973, ngụ ấp V, xã A, huyện B có đơn kiến nghị đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xử lý hình sự đối với nhóm của Nguyễn Trần T1 và nhóm của Lưu Anh V về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

* Tại Kết luận giám định số 200/KLTTCT-TTPYTN ngày 02/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Quốc D tại thời điểm giám định là 32% theo Thông tư 22/2019/TT-BYT. Thương tích 01 vết sẹo ở 1/3 dưới cẳng tay trái từ mặt trước đến mặt trong, kích thước (24 x 0,4) cm phù hợp do vật sắc gây ra. Những thương tích khác không đủ cơ sở để trả lời do vật gì gây ra. Cơ chế hình thành thương tích là trực tiếp.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc D 01 (một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bản án còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, biện pháp tư pháp về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025 bị cáo Lê Quốc D kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin giảm nhẹ và xin được hưởng án treo:

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu bị cáo kháng cáo không cung cấp được chứng cứ gì mới, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ xử phạt bị cáo 01 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng vào thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, bị cáo hiện đang là học sinh, trong vụ án bị cáo còn là bị hại của tội cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 32%, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tiếp tục học tập, trở thành con người có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08 tháng 01 năm 2025, ngày 20 tháng 01 năm 2025 bị cáo kháng cáo. Xét về trình tự thủ tục kháng cáo phù hợp với Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của bị cáo: căn cứ vào toàn bộ lời khai của bị cáo, người làm chứng, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa, có cơ sở xác định, khoảng 02 giờ ngày 22/8/2024, tại khu vực xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Trần Tam R Phạm Văn D1 (người dưới 18 tuổi), Hà Trọng N1, Nguyễn Thành L1, Nguyễn Gia H, Nguyễn Quang T2 mang theo dao tự chế, rựa, cây dũ 03 khúc, cây chỉa là hung khí nguy hiểm để đánh nhau với nhóm của Lưu A V rủ Lê Quốc D (người dưới 18 tuổi) mang theo dao tự chế hung khí nguy hiểm. Trên đường truy tìm để đánh nhau từ khu vực xã P, thị xã T đến khu vực xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Trần T1, Phạm Văn D1, Hà Trọng N1, Nguyễn Thành L1, Nguyễn Gia H, Nguyễn Quang T2, Lưu Anh V, Lê Quốc D có hành vi điều khiển xe môtô chạy qua, chạy lại trên đường, nhiều lần rú ga liên tục, rà kéo lê hung khí trên đường nhựa tạo ra tia lửa để kích động đánh nhau gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, mất an ninh trật tự địa phương, nên cùng ngày 22/8/2024 Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh có đơn kiến nghị xử lý hình sự đối với các đối tượng trên. Hành vi của Lê Quốc

D đủ yêu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công công” với tình tiết định khung tăng nặng là “Dùng .....hung khí....” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Quốc D về tội “Gây rối trật tự công công” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Lê Quốc D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương của xã hội, làm cho cuộc sống yên ổn của người dân bị phá vỡ, khiến cho một bộ phận không nhỏ người dân hoang mang, lo lắng, mất niềm tin vào chính quyền, cơ quan quản lý Nhà nước, nên Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh có đơn kiến nghị yêu cầu xử lý nghiêm đối với các bị cáo. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo thấy rằng vào thời điểm phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 5 tháng 29 ngày là người chưa thành niên phạm tội, mặc dù cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo 01 năm tù là có phần nghiêm khắc, vì bị cáo tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu, bị cáo bị các đối tượng khác đánh trọng thương với tỷ lệ thương tật 32%, lại đang là học sinh vào thời điểm xét xử thì Luật Tư pháp người chưa thành niên đã được công bố nên căn cứ Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên để áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo đối với bị cáo thể hiện chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, do đó chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Quốc D sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

[5] Vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[6] Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lê Quốc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quốc D, sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 19, Điều 124, khoản 2 Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc D 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày xét xử phúc thẩm (ngày 14 - 4 - 2025).

Giao bị cáo Lê Quốc D về Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục, gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Quốc D cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Quốc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - CQCSĐT CATTN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Công an huyện Bến Cầu;
  • - TAND huyện Bến Cầu;
  • - CCTHADS huyện Bến Cầu;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu THS; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 52/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger