Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/ 2025/DS-ST

Ngày: 02/04/2025

V/v: Tranh chấp Yêu cầu chia thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa-tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa-tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như -KSV

Ngày 02/04/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 256/2023/TLST-DS ngày 17/10/2023 về việc tranh chấp “Chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QÐST-DS ngày 27/02/2024 Quyết định hoãn phiên Toà số 444/2025/QÐST-DS ngày 17/03/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim C, sinh năm 1942.
  • Địa chỉ: Số A, đường Đ, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Triệu Anh T, sinh năm 1997
  • Địa chỉ thường trú: Số A hẻm N, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • Địa chỉ liên hệ: Số A, T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản uỷ quyền ngày 27/5/2023)
  • - Bị đơn: Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1935.
  • Địa chỉ: Số A, đường Đ, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà La Thị Đ, sinh năm: 1934
  • Địa chỉ: quận B, thành phố Hồ Chí Minh
  • Đại diện theo uỷ quyền của bà C có mặt, ông N có đơn xin vắng; bà Đ vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Triệu Anh T trình bày:

Bà Đỗ Thị Kim C và ông Trịnh Văn N chung sống với nhau từ trước năm 1962 không có đăng ký kết hôn. Trước khi chung sống với bà C, ông N có 01 người con riêng tên là Trịnh Kim L sinh ngày 09/05/1956. Theo ông N nói lại, mẹ ruột của bà L đã bỏ cha con ông N đi từ khi sinh bà L. Vì vậy bà C và ông N đã nuôi dưỡng bà L.

Quá trình nuôi dưỡng bà L, ngày 19/08/2013 bà C và ông N có tặng cho bà L căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 xã H thành phố B tỉnh Đồng Nai và bà L đã được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 236538 ngày 28/09/2013 do Uy ban nhân dân thành phố B cấp cho bà Trịnh Kim L

Ngày 14/12/2020 bà L chết không để lại di chúc

Sau khi bà L chết bà C và ông N không thống nhất với nhau về việc phân chia di sản của bà L để lại nên bà C khởi kiện yêu cầu chia di sản của bà L để lại theo phương án như sau:

Di sản của bà Trịnh Kim L để lại là căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013 cho bà Trịnh Kim L sẽ chia làm 03 phần: bà C 01 phần, ông N 01 phần và bà La Thị Đ là mẹ ruột của bà L 01 phần. Bà C yêu cầu giao di sản trên cho ông N sỡ hữu sử dụng và định đoạt, bà C đồng ý nhận di sản thừa kế trên bằng giá trị, ông N có trách nhiệm thanh toán lại cho bà C 1/3 giá trị di sản thừa kế là 3.170.552.000₫

* Tại các bản tự khai bị đơn ông Trịnh Văn N trình bày: Ông là chồng bà Đỗ Thị Kim C và cha ruột của bà Trịnh Kim L. Trước khi chung sống với bà C, ông có chung sống với bà La Thị Đ và sinh ra bà Trịnh Kim L. Tuy nhiên sau khi sinh bà L, bà Đ đã bỏ đi không rõ tung tích cho đến nay. Sau khi mẹ ruột bà L bỏ đi ông chung sống với bà C và nuôi dưỡng bà L

Quá trình nuôi dưỡng bà L, ngày 19/08/2013 ông N và bà C có tặng cho bà L căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 xã H thành phố B tỉnh Đồng Nai và bà L được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013

Ngày 14/12/2020 bà L chết không để lại di chúc

Sau khi bà L chết ông N và bà C không thống nhất với nhau về việc phân chia di sản của bà L để lại. Nay bà C khởi kiện yêu cầu chia thừa kế căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B tỉnh Đồng Nai theo giấy nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013 theo phương án:

Di sản của bà Trịnh Kim L để lại là căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013 cho bà Trịnh Kim L sẽ chia làm 03 phần: bà C 01 phần, ông N 01 phần và bà La Thị Đ là mẹ ruột của bà L 01 phần. Bà C yêu cầu giao di sản trên cho ông N sỡ hữu sử dụng và định đoạt, bà C đồng ý nhận di sản thừa kế trên bằng giá trị, ông N có trách nhiệm thanh toán lại cho bà C 1/3 giá trị di sản thừa kế là 3.170.552.000₫

Ông N cũng đồng ý với phương án trên

Bà La Thị Đ vắng mặt dù đã được đăng báo trên phương tiện thông tin đại chúng

* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Đỗ Thị Kim C.

Về án phí: bà C ông Nghĩa là người cao tuổi và có đơn xin miễn nên được miễn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà La Thị Đ đã được thông báo hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điều 180, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ là đúng theo quy định

[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[3] Về tư cách đương sự: Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định bà Đỗ Thị Kim C là nguyên đơn; ông Trịnh Văn Nghĩa L1 bị đơn; Bà La Thị Đ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[4] Về nội dung vụ án:

Bà Đỗ Thị Kim C và ông Trịnh Văn N sống với nhau từ trước năm 1962 không có đăng ký kết hôn. Khi về chung sống chung với bà C, ông N có 01 người con riêng là Trịnh Kim L sinh ngày 09/05/1956. Theo ông N trình bày mẹ ruột của bà L đã bỏ cha con ông đi từ khi khi sinh bà L. Vì vậy bà C và ông N đã nuôi dưỡng bà L.

Quá trình nuôi dưỡng bà L, ngày 19/08/2013 bà C và ông N có tặng cho bà Trịnh Kim L căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 xã H thành phố B tỉnh Đồng Nai theo hợp đồng tặng cho có công chứng của Văn phòng C1; Sau đó bà L được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013

Ngày 14/12/2020 bà L chết không để lại di chúc

Sau khi bà L chết bà C và ông N không thống nhất với nhau về việc phân chia di sản của bà L để lại nên bà C khởi kiện yêu cầu chia di sản của bà L để lại theo phương án sau:

Di sản của bà Trịnh Kim L để lại là căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013 cho bà Trịnh Kim L sẽ chia làm 03 phần: bà C 01 phần, ông N 01 phần và bà La Thị Đ là mẹ ruột của bà L 01 phần. Bà C yêu cầu giao di sản trên cho ông N sỡ hữu, sử dụng và định đoạt, bà C đồng ý nhận di sản thừa kế trên bằng giá trị, ông N có trách nhiệm thanh toán lại cho bà C 1/3 giá trị di sản thừa kế là 3.170.552.000₫

Về phía ông N cũng đồng ý với phương án của bà Đỗ Thị Kim C

Bà La Thị Đ vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện

Xét yêu cầu khởi kiện của bà C là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại điều 654 Bộ luật dân sự năm 2016.

Xác định, di sản thừa kế của bà Trịnh Kim L để lại là căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 28/09/2013 cho bà Trịnh Kim L

Phần di sản này sẽ được chia làm 03 phần cho 03 người gồm có: bà Đỗ Thị Kim C, ông Trịnh Văn N và bà La Thị Đ.

Theo bản đồ hiện trạng khu đất số 609/2025 ngày 04/02/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh B thì:

  • Đất có diện tích 215,5m² được giới hạn bởi các mốc ( 1,2,3,4,5,1) trong đó:
  • Diện tích 194,3m² nằm trong quy hoạch đất ở tại đô thị
  • Diện tích 21,2m² nằm trong quy hoạch đất giao thông

Theo bản vẽ hiện trạng nhà do Công ty cổ phần T1 thực hiện đã được Phòng quản lý đô thị thành phố B kiểm tra ngày 30/12/2008 thì nhà có kết cấu như sau:

  • +Nhà lầu 02 tầng+ áp mái
  • +Khung cột sàn bê tông cốt thép, mái ngói
  • +Tường xây gạch, nền gạch Ceramic
  • +Diện tích xây dựng tầng một: 105,90m²
  • +Diện tích sàn xây dựng: 257,90m²
  • Tổng diện tích sàn xây dựng hiện trạng: 95,00m²
  • Tổng diện tích sàn xây dựng sau khi S: 352,90m²

Qua xem xét thẩm định tại chổ thì căn nhà trên hiện không ai sinh sống

Theo chứng thư thẩm định giá thẩm định giá số 135/2025/01501/CT-TV cấp lần 1 ngày 25/02/2025 của Công ty cổ phần Đ1 thì căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B, tỉnh Đồng Nai có giá trị thẩm định 9.511.656.000đ trong đó:

  • +Giá trị quyền sử dụng đất ở ngoài phạm vi lộ giới: 7.183.979.418đ;
  • +Giá trị quyền sử dụng đất trong phạm vi lộ giới: 783.841.205₫;
  • +Giá trị công trình xây dựng trên đất: 1.543.834.790₫

Như vậy, tổng giá trị di sản thừa kế mà bà L để lại là 9.511.656.000đ, chia cho bà C, ông N, bà Đ mỗi người được hưởng là 3.170.552.000₫

Do bà C có yêu cầu nhận gía trị phần di sản của bà L và không có ý kiến bà Đ nên Hội đồng xét xử giao phần di sản thừa kế trên cho ông N sỡ hữu, sử dụng và định đoạt. Ông N sẽ có trách nhiệm thanh toán lại cho bà C và bà Đ mỗi người là 3.170.552.000đ phần di sản thừa kế trên

Về phía bà La Thị Đ, quá trình làm việc Toà án cũng đã đăng báo tìm kiếm bà Đ nhưng không có kết quả. Vì vậy kỷ phần thừa kế của bà Đ sẽ tạm giao cho ông Trịnh Văn N quản lý. Bà Đ được quyền kiện ông N để đòi kỷ phần thừa kế của mình bằng vụ kiện dân sự khác

Về chi phí tố tụng:

Chi phí thẩm định giá tài sản: bà C, ông N thống nhất không yêu cầu Toà giải quyết

Chi phí đo vẽ+ sao lục hồ sơ: 2.000.000₫

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 02 lần: 3.000.000₫

Chi phí đăng tin: 3.185.000đ.

Các khoản chi phí tố tụng và chi phí đăng tin bà C đã nộp xong và không có yêu cầu Toà giải quyết

[5] Về án phí DS-ST: bà C ông N được miễn vì là người cao tuổi có đơn xin miễn

[6] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điều 26, điều 35, điều 39, khoản 2, 3,4 điều 68, điều 147, điều 180; khoản 2 điều 227; điều 271, điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng điều 651, 654 Bộ luật dân sự năm 2016.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Kim C

Xác định căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 ngày 28/09/2013 là di sản thừa kế của bà Trịnh Kim L

Giao cho ông Trịnh Văn N được quyền sỡ hữu, sử dụng, định đoạt căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 91 tờ bản đồ số 60 phường H thành phố B được Ủỷ ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP236538 ngày 28/09/2013

Đất có diện tích 215,5m² được giới hạn bởi các mốc ( 1,2,3,4,5,1) trong đó:

  • Diện tích 194,3m² nằm trong quy hoạch đất ở tại đô thị
  • Diện tích 21,2m² nằm trong quy hoạch đất giao thông

Theo bản đồ hiện trạng khu đất số 609/2025 ngày 04/02/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh B

Nhà có cấu trúc như sau:

  • +Nhà lầu 02 tầng+ áp mái
  • +Khung cột sàn bê tông cốt thép, mái ngói
  • +Tường xây gạch, nền gạch Ceramic
  • +Diện tích xây dựng tầng một: 105,90m²
  • +Diện tích sàn xây dựng: 257,90m²
  • +Tổng diện tích sàn xây dựng hiện trạng: 95,00m²
  • +Tổng diện tích sàn xây dựng sau khi S: 352,90m²

Theo bản vẽ hiện trạng nhà do công ty cổ phần T1 thực hiện đã được Phòng quản lý đô thị thành phố B kiểm tra ngày 30/12/2008

Ông Trịnh Văn N có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Đỗ Thị Kim C kỷ phần thừa kế là 3.170.521.000₫

Ông N có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc sang tên nhà đất và chấp hành đúng chủ trường quy hoạch của nhà nước

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến ngày thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 BLDS năm 2015.

Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí DS-ST: Ông N bà C được miễn do là người cao tuổi và có đơn xin miễn

3. Bà C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trịnh Văn N, Bà La Thị Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

-Tòa án tỉnh Đồng Nai(01);

-VKSND TP. Biên Hòa(02);

-THADS TP. Biên Hòa(01);

-Các đương sự(02);

-Lưu (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà

Trần Thị Mộng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp yêu cầu chia thừa kế

  • Số bản án: 52/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Yêu cầu chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà C yêu chia thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger