Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Ngô Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Yang Taokai, sinh năm 1974; Địa chỉ thường trú: Tổ G, khu phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Quốc tịch: Trung Quốc; Địa chỉ nơi ở khi phạm tội: Phòng 502, nghà nghỉ Hải Lý, số A, đường C, phường L, quận L, Thành phố Hà Nội; Dân tộc: Hán; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: Hết cấp 3 Trung Quốc; Số hộ chiếu: 432923197407150033; Bố: Yang YiShen, sinh năm 1948 (đã chết); Mẹ: He JieErm, sinh năm 1949; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Không.

Nhân thân: Tháng 9/2011 bị xử phạt hình sự vì tội cố ý gây thương tích tại Trung Quốc.

Tiền án, tiền sự tại Việt Nam: Không.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam t ừ ngà y 02/01/2025. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Đức T, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, ngõ C đường T, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.

- Người phiên dịch: Anh Ngô Trần Đ, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà E, ngõ D, đường T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/12/2024, Y TaoKai nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu hữu nghị M, tỉnh Quảng Ninh bằng thị thực DL (Du lịch) thời hạn đến ngày 08/01/2025. Sau khi nhập cảnh, Y TaoKai thuê trọ tại nhà nghỉ H1, số A, đường C, phường L, quận L, thành phố H rồi thuê xe mô tô biển kiểm soát 36B6-867.74 của anh Cao Đức T để làm phương tiện đi lại.

Khoảng 10 giờ ngày 29/12/2024, Y TaoKai điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6-867.74 đi từ thành phố Hà Nội đến địa bàn tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm. Yang TaoKai đi đến cửa hàng kinh doanh quần áo “Thỏ Baby” của gia đình chị Nguyễn Thị H tại thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Bắc Giang mua 01 chiếc áo trẻ em với giá 100.000 đồng, đưa cho chị H 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 500.000 đồng và được chị H trả lại 400.000 đồng gồm 2 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Thời điểm này, Y TaoKai nhìn thấy chị H để 01 tập tiền trên mặt bàn thu ngân nên nảy sinh ý định trộm cắp. Yang TaoKai cầm tập tiền mà chị H để trên mặt bàn rồi nói tiếng Trung Quốc để chị H không hiểu. Lợi dụng lúc chị H quay mặt đi chỗ khác, Yang TaoKai đã lén lút rút 12 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng ở phía dưới tập tiền rồi gập, cuộn tròn giấu trong lòng bàn tay trái sau đưa trả lại chị H số tiền còn lại. Sau đó, Y TaoKai cất giấu số tiền trộm cắp vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi ra khỏi cửa hàng.

Ngày 02/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Yang T1 và thu giữ: 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 36B6-867.74; 01 mũ bảo hiểm màu trắng in dòng chữ Honda; 01 áo khoác màu đen có mũ; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note9 màu xanh, không lắp sim; 01 ví da bên trong có 8.659.000 đồng tiền Việt Nam (Y1 khai trong đó có 6.000.000 là trộm cắp của chị H); 01 thẻ ngân hàng C số 6217684800133685; 01 thẻ CCCD số 432923197407150033; 01 thị thực mang tên Yang Taokai số DA7155031.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp nơi ở của Yang T1 tại phòng 502, nhà nghỉ H1, số A, đường C, quận L, thành phố Hà Nội thu giữ trong Balo màu đen 7.000.000 đồng tiền Việt Nam và ngoại tệ gồm: 02 nhân dân tệ Trung Quốc, 10 Dolar H, 19 ringgit Malaysia, 68.700 Riel Campuchia, 25.000 Rupiah Indonesia và 2.850 Ruble N được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”.

Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 26 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Yang TaoKai về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Yang T1 khai nhận diễn biến sự việc như bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận đã trộm cắp số tiền 6.000.000 đồng của chị H, đồng ý với tội danh, điều, khoản Viện kiểm sát truy tố.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Y TaoKai từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu trắng in dòng chữ Honda và 01 áo khoác màu đen có mũ;

Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note9 màu xanh, không lắp sim; 01 ví da; 01 thẻ ngân hàng C số 6217684800133685; 01 thẻ CCCD số 432923197407150033; 01 thị thực mang tên Yang Taokai số DA7155031; 01 hộ chiếu mang tên Yang T1; số tiền 9.659.000 đồng; 02 nhân dân tệ Trung Quốc; A; 19 ringgit Malaysia; 68.700 R; 25.000 R1; 2.850 Ruble N.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo gửi lời xin lỗi đến bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về Trung Quốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Yang T1 là người nước ngoài phạm tội trên địa bàn thành phố B, không thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử theo thẩm quyền quy định tại Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử.

[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[3] Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án, đã có lời khai thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và không ai có yêu cầu gì, nên vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[4] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ xác định:

Ngày 29/12/2024, Yang TaoKai thực hiện hành vi trộm cắp 6.000.000 đồng của chị H tại cửa hàng kinh doanh quần áo “Thỏ Baby” ở thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Bắc Giang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam được pháp luật bảo vệ. Tài sản trộm cắp là 6.000.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự tại Việt Nam. Lý lịch của bị cáo thể hiện tháng 9/2011 bị xử phạt hình sự vì tội cố ý gây thương tích tại Trung Quốc.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mặc dù, tháng 9/2011 bị cáo bị xử phạt hình sự vì tội cố ý gây thương tích tại Trung Quốc nhưng bị cáo chưa từng phạm tội tại Việt Nam và giữa Việt Nam với Trung Quốc không có thỏa thuận nào về việc công nhận bản án hình sự của nhau nên để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Bị cáo đã từng bị xử lý hình sự tại Trung Quốc, khi nhập cảnh vào Việt Nam ít ngày đã thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát để giáo dục, răn đe bị cáo.

[7] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, không có nơi cư trú ổn định tại Việt Nam nên không cần thiết áp dụng phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo nhập cảnh vào Việt Nam bằng thị thực DL (Du lịch), thời hạn đến ngày 08/01/2025 nên thay vào đó, cần căn cứ điều 37 Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt bổ sung trục xuất đối với bị cáo sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù tại Việt Nam.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 6.000.000 đồng thu giữ bên trong ví da của bị cáo là tài sản bị cáo trộm cắp của chị Nguyễn Thị H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 36B6-867.74, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Cao Đức T (chủ sở hữu hợp pháp) là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 mũ bảo hiểm, 01 áo khoác màu đen có mũ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với các tài sản, đồ vật, giấy tờ khác thu giữ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[12] Cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 37; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Yang T1 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025. Trục xuất bị cáo Yang T1 ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu trắng in dòng chữ Honda và 01 áo khoác màu đen có mũ.

    Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note9 màu xanh, không lắp sim; 01 ví da; 01 thẻ ngân hàng C số 6217684800133685; 01 thẻ CCCD số 432923197407150033; 01 thị thực mang tên Yang Taokai số DA7155031; 01 hộ chiếu mang tên Yang T1; số tiền 9.659.000 đồng; 02 nhân dân tệ Trung Quốc; A; 19 ringgit Malaysia; 68.700 R; 25.000 Rupiah Indonesia và 2.850 Ruble N.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng tại sân kèm theo ngày 03/3/2025).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Phòng ngoại vụ;
  • - Phòng lãnh sự CHND Trung Hoa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger