Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/DS-PT

Ngày: 20-3-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tặng cho

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Phạm Thái Bình

Ông Nguyễn Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2024/TLPT- DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • + Bà Lê Thị Hoài Y, sinh năm 1982

  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  • + Bà Lê Thị C, sinh năm 1963

  • Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Lê Minh T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 08/5/2023)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Văn B – Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: A L, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2

- Bị đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Văn Đ – Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: A P, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Đinh Thị H, sinh năm 1942

  • + Ông Lê Văn H1, sinh năm 1936 (chết ngày 04/8/2023)

  • Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H1:

  • + Bà Đinh Thị H, sinh năm 1942

  • + Ông Lê Văn H2, sinh năm 1964 (chết)

  • + Bà Lương Thị Bạch V, sinh năm 1962

  • + Ông Lê Khắc H3, sinh năm 1989

  • + Ông Lê Khắc H4, sinh năm 1992

  • + Ông Lê Văn T2 (chết, không có vợ con)

  • + Ông Lê Văn X, sinh năm 1971

  • + Bà Lê Thị G, S năm 1973

  • + Bà Lê Thị C, sinh năm 1963

  • + Ông Lê Văn T1, sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  • + Bà Lê Thị Hoài Y, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  • + Ông Lê Minh N1, sinh năm 1974

  • + Bà Lê Thị Phương H5, sinh năm 1977

  • + Bà Lê Thị Thủy N, sinh năm 1985

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Do có kháng cáo của: Nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C.

Tại phiên toà, có mặt: Bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C, ông Lê Văn B, ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L, ông Lê Minh T, ông Lê Khắc H3, ông Trần Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/4/2023, bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C do ông Lê Minh T người đại diện theo ủy quyền của bà C trình bày:

3

Cha mẹ các bà là ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H có tạo lập được một thửa đất có diện tích 5.817,6m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 do UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1 và bà Đinh Thị H. Ngày 29/5/2012, ông Lê Văn H1 và bà Đinh Thị H có cho bà Lê Thị Hoài Y diện tích đất có chiều ngang 8m dài 20m và bà Lê Thị C một diện tích đất có chiều ngang 8m dài 20m cùng nằm trong thửa đất số 59 diện tích 5.817.6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839. Tại thời điểm cho đất thì ông H1 và bà H có viết giấy tay bằng giấy kẻ ngang với nội dung “....Cha, tôi tên Lê Văn H1 .....cha mẹ cho con Lê Thị Hoài Y một lô đất để làm nhà ở ngang 8m dài 20m.......ngày 29, tháng 05, 2012.... Ký tên Lê Văn H1, Đinh Thị H”, còn đối với giấy tay cho đất của bà Lê Thị C hiện nay bà C không còn giữ do thất lạc. Sau khi được cho đất thì do chưa có nhu cầu sử dụng nên bà Y và bà C chưa đi làm thủ tục đăng ký biến động sang tên mà vẫn để cho cha mẹ canh tác, sử dụng. Các bà thừa nhận bà H không biết chữ, chữ ký và chữ viết bà Đinh Thị H không phải do bà H viết và ký.

Các bà khẳng định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U204210 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 30/10/2001 cấp đứng tên hộ ông Lê Văn H1 với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông bà đang khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là cùng một thửa đất, hình thể thửa đất khác nhau thì ông bà hoàn toàn không biết. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 204210 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 30/10/2001 cấp đứng tên hộ ông Lê Văn H1 có diện tích 4.548m² là do trước đây cấp cho hộ gia đình trong đó có bà và bà C, sau này ông H1, bà H tự cấp đổi qua cá nhân ông H1, bà H để tặng cho ông T1, bà L là không đúng.

Vào năm 2021, lợi dụng cha mẹ già yếu, không còn đủ minh mẫn nên ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L đã tự làm hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021. Nay, bà Y và bà C yêu cầu :

  • - Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H;

  • - Hủy đăng ký biến động sang tên ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo hồ sơ TA.7090 ngày 05/8/2021 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021;

  • - Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị Hoài Y. Buộc ông T1, bà L phải trả cho bà

4

Y diện tích 160m² ngang 8m dài 20m thuộc hướng Nam (mặt đường M- T) thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021.

  • - Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị C. Buộc ông T1, bà L phải trả cho bà C diện tích 160m² ngang 8m dài 20m thuộc hướng Nam (mặt đường M - T) thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021.

Về quan hệ gia đình: Ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H (ông H1 chết năm tháng 8/2023) là vợ chồng với nhau. Vợ chồng ông H1, bà H có tổng cộng 07 người con cụ thể: Lê Thị C; Lê Văn H2(chết); Lê Văn X; Lê Thị G; Lê Văn T2 (chết lúc nhỏ); Lê Văn T1 và Lê Thị Hoài Y. Ông H2 có vợ là Lương Thị Bạch V và 02 con là Lê Khắc H3, Lê Khắc H4.

Ông Lê Văn H1 chung sống như vợ chồng với bà Trương Thị L1 (đã chết) sinh được 03 người con cụ thê: Lê Minh N1, Lê Thị Phương H5 và Lê Thị Thủy N.

Bị đơn ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L trình bày:

Cha mẹ ông là ông Lê Văn H1 và bà Đinh Thị H có tạo lập được một thửa đất có diện tích 5.817,6m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 do UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1 và bà Đinh Thị H. Năm 2021, cha mẹ ông cho vợ chồng ông toàn bộ diện tích 5.817,6m² thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021 là hoàn toàn tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật vào thời điểm đó cha mẹ ông là ông H1, bà H hoàn toàn minh mẫn. Đối với việc bà Lê Thị Hoài Y và bà Lê Thị C cho rằng ông H1, bà H cho bà Y diện tích 160m² và bà C diện tích 160m² đất thì vợ chồng ông hoàn toàn không biết sự việc này và cũng chưa từng được nghe nói hay chứng kiến. Nay theo yêu cầu của bà Y, bà C là tuyên hủy Hợp đồng tặng cho giữa ông H1, bà H với ông bà; Hủy đăng ký biến động sang tên vợ chồng ông bà; Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C đối với phần diện tích ngang 8m dài 20m và ngang 8m dài 20m nằm trong thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 thì vợ chồng ông bà không đồng ý.

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn H1 trình bày:

5

  • - Lê Khắc H3 đại diện cho mẹ là Lương Thị Bạch V, em trai là Lê Khắc H4 (vợ, các con của ông Lê Văn H2): Yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với giấy cho đất do bà Lê Thị Hoài Y, Lê Thị C ông không chứng kiến nên không biết rõ.

  • - Ông Lê Văn X - là con trai của ông H1, bà H: Việc cha mẹ cho quyền sử dụng đất cho ông T1, bà L đó là quyền của cha mẹ, vì đó là tài sản của ông bà. Đối với vụ án này, ông không có tranh chấp gì. Ông có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • - Bà Lê Thị G - là con gái của ông H1, bà H: Tài sản cha mẹ cho quyền sử dụng đất cho ông T1, bà L đó là quyền của cha mẹ, vì đó là tài sản của ông bà. Bà không có ý kiến và tranh chấp gì. Hiện nay bà đang bệnh nặng, không tham gia khi Tòa án mời và bà có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • - Bà Lê Thị Minh N1, Lê Thị Phương H5, Lê Thị Thủy N: Họ là những người con của ông H1 và bà Trương Thị L1 (vợ sau của ông H1 đã chết năm 2006), không tranh chấp vấn đề tài sản của gia đình, không liên quan đến vấn đề tặng cho giữa bà Y, bà C và ông T1. Họ có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt.

Ông Lê Văn T1, bà Lê Thị C và bà Lê Thị Hoài Y cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1 vẫn giữ ý kiến như lời trình bày của mình đã nêu trên.

Luật sư bào vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:

Theo yêu cầu của nguyên đơn là không có cơ sở pháp lý vì việc tặng cho giấy tay bà C, bà Y không hợp lệ, nguyên đơn không chứng minh được giấy tờ tặng cho các nguyên đơn là do ông H1, bà H ký tên. Việc ông H1, bà H tặng cho ông T1, bà L đầy đủ quy định pháp luật. Nguyên đơn cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U204210 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 30/10/2001 cấp đứng tên hộ ông Lê Văn H1 với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021 cùng một thửa đất, cùng cấp cho hộ gia đình là hoàn toàn không có cơ sở vì hình thể khác nhau hoàn toàn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Điều 457, Điều 459; Điều 502, Điều 503 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 465, Điều 467; Điều 692; Điều 722; Điều 723 Bộ luật Dân sự 2005;

Khoản 1 Điều 106, Điều 129 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 167; khoản 1, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;

6

Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C về việc yêu cầu:

  • - Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị Hoài Y. Buộc ông T1, bà L phải trả cho bà Y diện tích 160m² ngang 8m dài 20m thuộc hướng Nam (mặt đường M - T) thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021.

  • - Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị C. Buộc ông T1, bà L phải trả cho bà C diện tích 160m² ngang 8m dài 20m thuộc hướng Nam (mặt đường M- T) thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021.

Tất cả đều tọa lạc tại: Thôn B, xã T, huyện H cho bà Y, bà C.

Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019; Hùy đăng ký biến động sang tên ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo hồ sơ TA.7090 ngày 05/8/2021 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021;

(Kèm theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T4 đo vẽ ngày 20/7/2023).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

7

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Thực tế, ông H1 và bà H có ý nguyện cho đất các con là bà Y, bà C mỗi người 8m, chiều dài 20m. Ông bà có viết giấy cho đất và viết tờ di chúc thể hiện vị trí đất. Bà Y có cung cấp một đoạn ghi âm thể hiện vào năm 2021 thể hiện ông T1 cũng đồng ý cho đất bà Y nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Bị đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn cũng như những lời trình bày của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay. Những chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm là tờ di chúc, đoạn ghi âm là không có căn cứ. Ông T1 không xác định được giọng nói trong đoạn ghi âm mà nguyên đơn cung cấp có phải lời nói của ông T1 hay không. Theo nguyên đơn trình bày thì đoạn ghi âm được ghi vào đầu năm 2021 nhưng thời điểm này đất vẫn còn đứng tên ông H1, bà H trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc ông T1 đồng ý cho bà Y đất là không phù hợp. Bản di chúc không đúng hình thức và có phải ông Huỳnh bà H6 viết và ký hay không nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ này do nguyên đơn cung cấp.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

  2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

8

[2] Tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng những người này đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về áp dụng pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện nội dung liên quan đến giấy viết tay được lập ngày 29/5/2012, là thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Đất đai năm 2003 đang có hiệu lực nên áp dụng các luật này để giải quyết. Còn Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/6/2021 thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai 2013 để giải quyết vụ án.

[4] Về nguồn gốc đất có tranh chấp: Các đương sự xác định đó là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021, tọa lạc tại thôn B, xã T, huyện H.

Tại Công văn phúc đáp số 444/UBND-NC ngày 05/05/2024 của UBND huyện H thì nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích đất trên do ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H tạo lập trước năm 1990, sử dụng đến năm 2021 thì ông bà đã làm thủ tục tặng cho ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L và ông T1, bà L đã sử dụng đất ổn định đến thời điểm đất tranh chấp.

Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 là đúng quy định của Luật Đất đai và việc cấp giấy chứng nhận này là cấp quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H.

Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 25/6/2024 thì thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 hiện đang tranh chấp không được cấp đổi từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U204210 do UBND huyện H cấp ngày 30/10/2001, do khác nhau về vị trí tọa độ và hình thể.

Do đó, việc nguyên đơn cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 được cấp đổi từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U204210, diện tích 4.548m² là cùng một thửa đất, nhưng hình thể thửa đất khác nhau và cấp cho hộ gia đình trong đó có các bà, sau này ông H1, bà H tự cấp đổi qua cá nhân ông H1, bà H để tặng cho ông T1, bà L là không có căn cứ.

[5] Về việc công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012:

[5.1] Nguyên đơn cho rằng vào ngày 29/5/2012 ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H có làm giấy tay cho bà Lê Thị Hoài Y đối với phần diện tích ngang 8m, dài 20m và cho bà Lê Thị C đối với phần diện tích ngang 8m, dài 20m (không có giấy viết tay vì bà C đã làm thất lạc) cùng nằm trong thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích

9

5.817,6m² nói trên. Giấy viết tay có nội dung nêu trên là do ông Lê Văn H1 đọc cho bà Nguyễn Thị L2 (thường gọi là T3, hiện nay đã chết) viết, ông H1 ký tên và ký thay tên cho bà H, còn chữ Đinh Thị H thì do bà L2 viết vì bà H không biết chữ, không biết viết. Thời điểm lập giấy chỉ ông H1, bà L2, sau đó 10 ngày thì ông H1 mới nói cho nguyên đơn biết việc này. Tại phiên toà sơ thẩm thì bà Y lại trình bày thời điểm lập giấy cho đất có mặt bà H (là mẹ). Và do chưa có nhu cầu sử dụng nên bà Y, bà C chưa đi làm thủ tục đăng ký biến động sang tên mà vẫn để cho cha mẹ canh tác, sử dụng.

[5.2] Theo quy định tại Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005:

  1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

  2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Theo Điều 129 Luật Đất đai năm 2003 quy định về Trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất như sau:

“1. Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định ... Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước”.

Quá trình giải quyết vụ án bà C, bà Y đã trình bày không thống nhất, mâu thuẫn với nhau và giấy cho thì không thể hiện rõ ràng cho diện tích đất ở vị trí, tứ cận, địa chỉ đất, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào. Còn về phần bà C thì thất lạc giấy tờ nên không có căn cứ bà được cho diện tích đất như trình bày. Vì vậy, giấy viết tay ngày 29/5/2012 của bà Y cung cấp và bà C (không có giấy tờ cho) không đảm bảo về mặt chủ thể và hình thức. Hơn nữa, đến nay bà C và bà Y vẫn chưa thực hiện thủ tục pháp lý đối với phần đất được tặng cho theo quy định tại khoản 2 Điều 467, Điều 692 Bộ luật Dân sự 2005. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nên không có cơ sở để chấp nhận như phân tích của Toà án cấp sơ thẩm là có căn cứ.

[6] Về việc hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền

10

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và hủy cập nhật biến động sang tên ông T1, bà L:

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/6/2021 giữa ông H1, bà H cho ông T1, bà L được lập thành hợp đảm bảo về mặt hình thức, nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 119, khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đăng ký cập nhật biến động sang tên ngày 05/8/2021.

Mặt khác, Công văn số 3287/CV-CN.VPĐKĐĐ-HTB ngày 19/10/2023 đã xác định hồ sơ tặng cho giữa ông H1, bà H tặng cho ông T1, bà L là đúng theo quy định của pháp luật hiện hành và hơn nữa vợ chồng ông T1, bà L đã sinh sống và quản lý diện tích đất ổn định từ khi được tặng cho cho đến nay.

Việc nguyên đơn trình bày đất cấp cho hộ gia đình trong đó có các bà, sau này ông H1, bà H tự cấp đổi qua cá nhân ông H1, bà H để tặng cho ông T1, bà L và ông T1, bà L lợi dụng cha mẹ già yếu, không còn đủ minh mẫn đã tự làm hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên đây là những lời khai không có cơ sở.

Sau khi phát sinh tranh chấp thì bà Y mới trồng 07 trụ xi măng bê tông trên đất để làm ranh, quá trình giải quyết vụ án thì bà Y và các đương sự khác không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu Toà án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và hủy cập nhật biến động sang tên ông T1, bà L của nguyên đơn là đúng pháp luật.

[7] Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C nhưng không có chứng cứ gì mới để chứng minh, không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, bà Lê Thị C là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông N2 theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị

11

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Điều 457, Điều 459; Điều 502, Điều 503 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 465, Điều 467; Điều 692; Điều 722; Điều 723 Bộ luật Dân sự 2005;

Khoản 1 Điều 106, Điều 129 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 167; khoản 1, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C về việc yêu cầu:

  • - Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị Hoài Y. Buộc ông T1, bà L phải trả cho bà Y diện tích 160m2 ngang 8m dài 20m thuộc hướng Nam (mặt đường M- T) thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021.

  • - Công nhận Hợp đồng tặng cho bằng giấy viết tay vào ngày 29/5/2012 giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với bà Lê Thị C. Buộc ông T1, bà L phải trả cho bà C diện tích 160m2 ngang 8m dài 20m thuộc hướng Nam (mặt đường M - T) thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191, diện tích 5.817,6m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP

12

543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 đứng tên ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021.

Tất cả đều tọa lạc tại: Thôn B, xã T, huyện H cho bà Y, bà C.

Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H1, bà Đinh Thị H với ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 191 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019; Hủy đăng ký biến động sang tên ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo hồ sơ TA.7090 ngày 05/8/2021 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 543839 được UBND huyện H cấp ngày 24/01/2019 và được cập nhật biến động sang tên cho ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Minh L ngày 05/8/2021;

(Kèm theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T4 đo vẽ ngày 20/7/2023).

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

2.1. Về án phí sơ thẩm:

Bà Lê Thị Hoài Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014578 ngày 26/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, Bà Y đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Bà Lê Thị C không phải chịu án phí sơ thẩm.

2.2. Về án phí phúc thẩm:

Buộc bà Lê Thị Hoài Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0013677 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc. Bà Y đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

2.3. Về chi phí tố tụng:

Bà Lê Thị Hoài Y, bà Lê Thị C phải chịu 7.619.000 đồng, được chia đều cho bà C, bà Y mỗi bên phải chịu 3.809.500 đồng. Bà Y, bà C đã nộp đủ.

Ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Minh L không phải chịu chi phí định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ.

Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (20/3/2025)

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

13

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;

  • - TAND huyện HTB;

  • - VKSND huyện HTB;

  • - Chi cục THADS huyện HTB;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 52/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger