TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 52/2025/HS-ST Ngày: 14/03/2025 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
----------
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu, bà Phạm Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký Tòa án TP V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14/03/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP V, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 16/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung T - Sinh ngày 10/4/1985 tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H và bà Phan Thị N; Vợ: Lê Thị N1, sinh năm 1989; Con: có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/5/2019 TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ra trại ngày 30/4/2021; Bị tạm giữ từ ngày 07/12/2024 đến ngày 16/12/2024 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Trần Thị Ngọc D – sinh năm 2003
Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Tạm trú tại: Số nhà A, ngõ E, đường N, khối G, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung T1: Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Tố O - Công tác tại: Công ty L1 - Đoàn luật sư tỉnh N – vắng mặt.
Nội dung vụ án:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, Nguyễn Trung T1 đi bộ từ phòng trọ của mình tại số G, ngõ E, đường N, thuộc khối G, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An sang nhà trọ số A, ngõ E, đường N, thuộc khối G, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An chơi. Khi vào trong nhà trọ, T1 đi lên tầng 2 thì nhìn thấy phòng trọ số 202 đang mở cửa, bên trong phòng sáng điện nhưng không có người. Lúc này T1 nảy sinh ý định đột nhập vào phòng trọ số 202 để lấy trộm tài sản. Quan sát xung quanh không có người, Nguyễn Trung T1 đi vào trong phòng số 202 nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen, dung lượng 64GB, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0967785750 của chị Trần Thị Ngọc D (sinh năm 2003, trú tại xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) đang để trên bàn học phía bên trái cửa ra vào nên T1 đã lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần đùi đang mặc rồi đi ra khỏi nhà trọ. Sau đó, do lo sợ bị phát hiện nên T1 đã cất dấu chiếc điện thoại vừa lấy trộm được ở trên vỉa hè,cách gốc cây xoài khoảng một mét, phía trước cửa hàng S (số F, đường N, thuộc khối G, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An). Đến khoảng 23giờ 30 phút cùng ngày, khi T1 đang đi bộ trước số nhà F, đường N thì bị tổ công tác Công an phường T, TP V, tỉnh Nghệ An kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc. Tại đây, do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và biết Cơ quan Công an đang xác minh làm rõ nên Nguyễn Trung T1 đã xin đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình, đồng thời cùng với tổ công tác đi đến khu vực cất dấu lấy chiếc điện thoại giao nộp cho tổ công tác Công an phường T, TP V.
Cũng trong đêm ngày 06/12/2024 chị Trần Thị Ngọc D đã đến Công an phường T, TP V trình báo sự việc bị mất chiếc điện thoại trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 227/KL – ĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 12 màu đen, dung lượng 64GB, số máy MGJ53KH/A, số sê ri: FFXDNQ90F0N, số imei: 357078161006478 đã qua sử dụng, vào thời điểm ngày 06/12/2024 có giá trị 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
- Về dân sự: Chị Trần Thị Ngọc D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 48/CT-VKS - TPV ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Trung T1 về tội: "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Vinh giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt Nguyễn Trung T1 từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 18 đến 24 tháng. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS, điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trung T1 khai nhận: Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, tại phòng trọ số 202 thuộc nhà trọ số A, ngõ E, đường N, khối G, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 12 màu đen, dung lượng 64GB của chị Trần Thị Ngọc D rồi đưa đi cất dấu ở vỉa hè phía trước cửa hàng S, số F, đường N, khối G, phường T, TP V thì bị tổ công tác Công an phường T, TP V kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc. Do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã xin đầu thú và cùng tổ công tác đi đến khu vực cất dấu lấy chiếc điện thoại giao nộp cho cơ quan Công an để trả lại cho người bị hại. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 12, trị giá 4.200.000₫ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) của chị Trần Thị Ngọc D mà bị cáo Nguyễn Trung T1 thực hiện đã có đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trên địa bàn TP V nói riêng và trật tự trị an xã hội nói chung. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, ngày 29/5/2019 đã bị TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã có thời gian cải tạo, giáo dục tại trại giam nhưng không biết lấy đó làm bài học răn mình mà nay lại tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên HĐXX xét thấy sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị cáo đã xin đầu thú, tự nguyện giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt để trả lại cho người bị hại nhằm khắc phục hậu quả, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng, có ông nội và chú ruột của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân, huy chương các loại nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình và xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo bản thân nên chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà xử cho bị cáo được hưởng án treo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội.
- Về dân sự và vật chứng: Chiếc điện thoại di động Apple, loại máy Iphone 12 màu đen Nguyễn Trung T1 chiếm đoạt của chị Trần Thị Ngọc D đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T trả lại cho chủ sở hữu. Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Trung T1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/3/2025. Giao bị cáo Nguyễn Trung T1 cho UBND xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Trung T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2025), bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.
+ Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khánh Toàn |
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH về trộm cắp tài sản (theft of property)
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, tại phòng trọ số 202 thuộc nhà trọ số A, ngõ E, đường N, khối G, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 12 màu đen, dung lượng 64GB của chị Trần Thị Ngọc D rồi đưa đi cất dấu ở vỉa hè phía trước cửa hàng S, số F, đường N, khối G, phường T, TP V thì bị tổ công tác Công an phường T, TP V kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc
