TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HS-ST
Ngày: 06/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Bời
- Ông Lưu Văn Có
Thư ký phiên tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN B (giới tính: Nam) – sinh ngày: 16/02/1994 tại Phú Yên. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn V, xã V, thành phố N, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Văn N – sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị H – sinh năm: 1966, vợ: Nguyễn Thị N1 – sinh năm: 1994; Bị cáo có 02 con: con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố N (nay là P trại tạm giam khu vực N - Thuộc Trại tạm giam công an tỉnh K).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc K - sinh năm: 1994
Địa chỉ: 1 P, phường P (nay là phường P), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N1 - sinh năm 1994
- Địa chỉ: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Kiều Việt C - sinh năm 1991. Địa chỉ: Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Công ty cổ phần D1 và thông minh GSM.
- Đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Lê Tấn T - sinh năm 1992. Địa chỉ: Lô I, Ô khu tái định cư Đ, xã V, tp ., tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Tôn Thất D - sinh năm 1981. Địa chỉ: TDP A, TT. Drăng, huyện E, tỉnh Đắc Lắc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 14/08/2024, Nguyễn Văn B điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 79N2-040.03 đi trên các tuyến đường của trung tâm thành phố N để tìm tài sản sơ hở thì cướp giật. Khi đến ngã 3 đường N - T, phường L, thành phố N thì B thấy anh Nguyễn Ngọc K đang đứng trên vỉa hè, trên tay đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xanh, 256GB. Lúc này, Nguyễn Văn B điều khiển xe máy chạy lên vỉa hè, sau đó nhanh chóng áp sát, dùng tay trái giật lấy điện thoại di động của anh K rồi tăng ga bỏ chạy về hướng đường T - N. Thấy vậy, anh K lập tức hô hoán, truy hô theo Bất. Do thời điểm này phương tiện tham gia giao thông trên đường đông nên B điều khiển xe tông vào đầu xe taxi Xanh SM hiệu Vinfast VF34, BKS 79E-008.00 do anh Kiều Việt C điều khiển (chủ sở hữu là Công ty Cổ phần D2) đang dừng đỗ bị té ngã. Sau đó, anh K, anh Tôn Thất D cùng người dân xung quanh bắt giữ đối tượng cùng tang vật đưa về trụ sở Công an phường L làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 828/KL-HDĐGTS ngày 19/08/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự - UBND thành phố N kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xanh, 256GB có giá trị 26.960.700 đồng.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSNT-HS ngày 13/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố Nguyễn Văn B về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Về trách nhiệm dân sự và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi bị cáo dùng xe mô tô áp sát, giật tài sản của người bị hại là rất nguy hiểm có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người bị hại, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không sử dụng sức lao động của mình để làm việc chân chính nuôi sống bản thân mà lại đi cướp giật tài sản của người khác. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã trả lại cho bị hại, nên Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc K không yêu cầu bồi thường nên không xét.
[5] Về vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xanh, số seri: JH70G700WX, 256GB đã trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Ngọc K.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 79N2-040.03, màu đỏ đen, số máy 5C6K286063, số khung RLCS5C6K0GY286052 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị N1 là vợ bị cáo B, tuy đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng chị N1 không biết việc bị cáo dùng xe này đi cướp giật, xét nên trả lại cho chị Nguyễn Thị N1.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng: khoản điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024.
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét, nếu có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về vật chứng vụ án: Tuyên trả 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 79N2-040.03, màu đỏ đen, số máy 5C6K286063, số khung RLCS5C6K0GY286052 cho chị Nguyễn Thị N1.
Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Nguyễn Vũ L |
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về cướp giật tài sản
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bất
