Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 06 - 03 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tuyết Nhung, ông Trần Văn Nghị.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST - HS, ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST-QĐ, ngày 19/02/2025 đối với các bị cáo:

1. / Họ và tên: Phan Thanh T; Tên gọi khác: H

Sinh ngày 23 tháng 4 năm 1995; tại: Tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định; Con bà: Phan Thị S, sinh năm 1959; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án; Tiền sự: không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 93/2016/HSST, ngày 27/7/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 03/5/2018 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích).

Ngày 29/9/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian chấp hành 12 tháng, theo Quyết định số 279/2019/QĐ-TA. Ngày 06/6/2020 chấp hành xong Quyết định xử phạt tại Cơ sở cai nghiện ma túy - Bảo trợ xã hội P thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố H.

Ngày 01/02/2023 bị Công an phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000674/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đã chấp hành nộp phạt ngày 21/02/2023.

Tại Bản án số 90/2024/HS-ST, ngày 30/12/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 09 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án số 02/2025/HSST, ngày 16/01/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phan Thanh T đang bị tạm giữ, tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, từ ngày 23 tháng 5 năm 2024 cho đến nay. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2./ Họ và tên: Nguyễn Văn T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 01 năm 1996; tại: Tỉnh Nghệ An.

Nơi thường trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1957; Con bà Nguyễn Thị B; sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 tiền sự:

Ngày 10/3/2023, bị Toà án nhân dân Tp. Thủ Đức, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng. Ngày 19/3/2024, chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính;

Nhân thân:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2020/HS-ST, ngày 29/4/2020 của Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 05/3/2021, chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích);

Ngày 15/5/2024, bị Công an T2 xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (chưa nộp phạt);

Tại Bản án số 90/2024/HS-ST, ngày 30/12/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án số 02/2025/HSST, ngày 16/01/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn T1 đang bị tạm giữ, tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 cho đến nay. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

3./ Họ và tên: Lê Minh C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 8 năm 1985; tại: Tỉnh Hà Nam.

Nơi cư trú: Thôn A, xã K, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Phan C1, sinh năm 1960; Con bà: Nguyên Thị N, sinh năm 1955; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: 02 tiền án.

Tại Bản án số 259/2017/HSST, ngày 29/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 09/12/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tại Bản án số 104/2022/HS-ST, ngày 18/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Ngày 31/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

Tại Bản án số 144/2011/HSST, ngày 29/9/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tuyên phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 07/5/2013 chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam T3, tỉnh Thanh Hóa (đã được xóa án tích).

Ngày 29/6/2016 bị Công an phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 57/QĐ-XPHC với số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 07/12/2016 bị Công an phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC với số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Bản án số 74/2024/HS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án số 379/2024/HS-ST, ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 09 năm tù giam về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án số 90/2024/HS-ST, ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 05 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án số 02/2025/HS-ST, ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản giam về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Minh C đang bị tạm giữ, tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T2, tỉnh Bình Dương, từ ngày 09 tháng 5 năm 2024 cho đến nay. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 03/2024 Nguyễn Văn T1, Phan Thanh T và Lê Minh C bàn bạc rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. T bỏ ra số tiền 400.000 đồng, T1 và C bỏ ra mỗi người số tiền 300.000 đồng đưa cho T đặt mua trên mạng xã hội Facebook của một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) gồm: 02 (hai) bộ thanh phá khóa bằng một khóa 8 hình chữ L và một mũi vít mài dẹp mũi nhọn, 01 (một) kìm thủy lực, với số tiền 1.000.000 đồng để làm công cụ đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 18 giờ ngày 01/5/2024, T1 và T đến phòng trọ của C ở phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bàn bạc cùng nhau đón xe khách đi đến tỉnh Đắk Lắk để trộm cắp xe mô tô. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày T mang theo 01 (một) ba lô đựng quần áo và tua vít, vam phá khóa cùng với T1, C đón xe khách (chưa xác định được hãng xe, đặc điểm xe) đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để trộm cắp tài sản.

Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 02/5/2024, T, T1 và C đến Bến xe phía Nam, thuộc phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bàn bạc chia nhau đi tìm tài sản để trộm cắp. C, T1 đi trước còn T đi vào một đường hẻm gần khu vực B. Khi đến nhà của anh Nguyễn Trung H2 (sinh năm 1985, trú tại Tổ dân phố B, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), T dùng tua vít mang theo cạy ổ khóa cổng hiệu Việt tiệp rồi đi vào nhà, thấy trong nhà dựng 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, không gắn biển kiểm soát, trên xe mô tô treo 01 (một) chiếc nón bảo hiểm màu trắng, không có người trông coi. Tom lấy chiếc mũ bảo hiểm đội lên đầu rồi lén lút dắt chiếc xe mô tô ra phía trước nhà, dùng vam phá khóa điện, nổ máy và điều khiển xe đi ra đường thì gặp C, T1. Sau đó, T điều khiển xe mô tô trộm cắp được chở T1, C chạy tẩu thoát đi theo Quốc lộ A về hướng tỉnh Đắk Nông. Sau đó, T điều khiển xe mô tô Honda Wave đến khu vực Cầu vượt S, thuộc thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, bán cho người tên H3 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) được số tiền 11.500.000 đồng. Số tiền này, T chia cho T1 và C mỗi người 3.000.000 đồng, T hưởng 5.500.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.

Hiện trường của vụ án: Được xác định xảy ra tại khu vực sân của ngôi nhà địa chỉ số A đường P, tổ dân phố B, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, hiện trường đã bị xáo trộn. Quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận định giá tài sản số 227 ngày 12 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, chưa gắn biển kiểm soát, số khung RLHJA393RY079852, số máy JA70E0376674, trị giá là 20.000.000 đồng.

Tại Công văn phúc đáp số 10/HĐĐGTS ngày 07 tháng 11 năm 2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố B xác định chiếc mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, không có nhãn hiệu (không thu giữ được) không có giá trị để định giá.

Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKS-HS ngày 31/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Lê Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1, Lê Minh C theo bản cáo trạng số 39/CT-VKS-HS ngày 31/01/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1, Lê Minh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh C mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật Dân sự:

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số máy: JA70E0376674, số khung: RI.HJA393RY079852 chưa tạm giữ được, Cơ quan điều tra đã có thông báo truy tìm đến các đơn vị nghiệp vụ của Bộ C2 và các địa phương.

Đối với: 01 (một) chiếc nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, không có nhãn hiệu Phan Thanh T trộm cắp của anh Nguyễn Trung H2. Sau đó T đã làm mất, nên Cơ quan điều tra chưa tạm giữ được; 01 (một) ổ khóa Việt Tiệp là tài sản của anh Nguyễn Trung H2 bị hư hỏng, anh H2 mua sử dụng từ lâu không còn giá trị. Anh H2 không yêu cầu bồi thường xử lý, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh là công cụ Phan Thanh T dùng phạm tội, đã làm mất, không xác định được địa điểm, Cơ quan điều tra không tạm giữ được, nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với: 02 bộ thanh đoản (vam) phá khóa bằng một khóa 8 hình chữ L và một mũi vít mài dẹp mũi nhọn, 01 một kìm thủy lực, là các công cụ các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 và Lê Minh C dùng để trộm cắp tài sản. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đang tạm giữ do liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản mà các bị cáo thực hiện trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 và Lê Minh C chưa bồi thường cho anh Nguyễn Trung H2, số tiền 20.000.000 đồng. Nên đề nghị buộc các bị cáo T, T1 và Châu phả liên đới bồi thường số tiền trên cho anh H2.

Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 03 giờ sáng ngày 02/5/2024, tại nhà của gia đình anh Nguyễn Trung H2, địa chỉ tổ dân phố B, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 và Lê Minh C đã lén lút trộm cắp tải sản của anh Nguyễn Trung H2 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (chưa có biển số) và 01 (một) chiếc nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, không có nhãn hiệu của anh Nguyễn Trung H2, trị giá tài sản chiếm đoạt là 20.000.000 đồng, thì bị phát hiện xử lý.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự.

“Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm”

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo Lê Minh C có 02 tiền án, chưa được xóa án tích. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Lê Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức, bị cáo phải biết tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng nên các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu nên đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số máy: JA70E0376674, số khung: RI.HJA393RY079852, trị giá 20.000.000 đồng nhưng các bị cáo đã bán xe để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Về vai trò:

Trong vụ án này, các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1, Lê Minh C cùng thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Phan Thanh T là người đặt mua trên mạng xã hội 02 (hai) bộ thanh phá khóa bằng một khóa 8 hình chữ L và một mũi vít mài dẹp mũi nhọn, 01 (một) kìm thủy lực để làm công cụ trộm cắp tài sản và là người trực tiếp thực hiện hành vi. Sau khi thực hiện xong tội phạm thì các bị cáo cùng đưa tài sản trộm được đem đi bán và chia đều số tiền bán được.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số máy: JA70E0376674, số khung: RI.HJA393RY079852 chưa tạm giữ được, Cơ quan điều tra đã có thông báo truy tìm đến các đơn vị nghiệp vụ của Bộ C2 và các địa phương.

Đối với: 01 (một) chiếc nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, không có nhãn hiệu Phan Thanh T trộm cắp của anh Nguyễn Trung H2. Sau đó T đã làm mất, nên Cơ quan điều tra chưa tạm giữ được; 01 (một) ổ khóa Việt Tiệp là tài sản của anh Nguyễn Trung H2 bị hư hỏng, anh H2 mua sử dụng từ lâu không còn giá trị. Anh H2 không yêu cầu bồi thường xử lý, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh là công cụ Phan Thanh T dùng phạm tội, đã làm mất, không xác định được địa điểm, Cơ quan điều tra không tạm giữ được, nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với: 02 bộ thanh đoản (vam) phá khóa bằng một khóa 8 hình chữ L và một mũi vít mài dẹp mũi nhọn, 01 một kìm thủy lực, là các công cụ các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 và Lê Minh C dùng để trộm cắp tài sản. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đang tạm giữ do liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản mà các bị cáo thực hiện trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, không đề cập xử lý trong vụ án này.

Quá trình điều tra, các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 và Lê Minh C chưa bồi thường cho anh Nguyễn Trung H2, số tiền 20.000.000 đồng. Bị hại anh Nguyễn Trung H2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng theo kết quả định giá tài sản. Vì vậy, các bị cáo T, T1 và C phải liên đới bồi thường số tiền trên cho anh H2, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 6.666.667 đồng.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với người bán công cụ gồm 02 bộ thanh đoản (vam) phá khóa bằng một khóa 8 hình chữ L và một mũi vít mài dẹp mũi nhọn, 01 một kìm thủy cho các bị cáo Phan Thanh T, Lê Minh C và Nguyễn Văn T1, dùng để trộm cắp tài sản; Đối với đối tượng tên H3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave do các bị cáo trộm cắp được mà có. Cơ quan điều tra chưa xác định nhân thân lai lịch của những người này, nên tách ra khỏi vụ án để điều tra xác minh xử lý sau, là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1, Lê Minh C phạm tội “Trộm cắp tài sản
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • - Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Lê Minh C 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật Dân sự:

    Buộc các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1 và Lê Minh C phải liên đới bồi thường số tiền trên cho anh H2 số tiền 20.000.000 đồng, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 6.667.000 đồng (Làm tròn số).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Phan Thanh T, Nguyễn Văn T1, Lê Minh C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 333.350 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT (PV06);
  • - VKSND TP.Buôn Ma Thuột;
  • - Công an TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • - THA phạt tù (để thi hành);
  • - Bị cáo; bị hại; Người liên quan (Nếu có);
  • - Lưu Hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh T và Đồng Phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger