|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 52/2025/HS-ST Ngày: 06 – 3 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hữu Chí.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Hùng;
2. Bà Lê Thị Kim Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường xét xử A, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Đình T (tên gọi khác: không có), sinh năm 1980 tại tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú và nơi ở hiện tại: khu phố M, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang H, sinh năm 1957 và bà Ngô Thị H1, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Lê Thị H2, sinh năm 1990 và có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/11/2024, đến ngày 08/12/2024 được tại ngoại điều tra (có mặt).
- Bị hại: Công ty Cổ phần K – Chi nhánh B.
Địa chỉ: Dường D, Khu công nghiệp V, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Do ông Phạm Tuấn S – Người đứng đầu Chi nhánh đại diện.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành C – Phó Giám đốc Chi nhánh.
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị H3, sinh năm 1973.
Nơi thường trú: Khu phố M, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1985.
(Bà H3, ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đình T là công nhân bộ phận thành phẩm của Công ty Cổ phần K - Chi nhánh B, thuộc khu công nghiệp V, huyện N, trong lúc làm việc T thấy có nhiều van đầu chai LPG tại vị trí kiểm tra của xưởng trong giờ nghỉ trưa không có người nên nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Cụ thể, hàng ngày trong lúc T đi làm T lén lút lấy trộm từ 05-07 cái van bỏ vào túi quần đem về nhà. Và liên tục từ ngày 30/9/2024 đến ngày 28/11/2024, T lấy trộm tổng cộng 316 cái van đem về nhà tại khu phố M, thị trấn H, huyện N cất giấu. Đến 12 giờ 30 phút ngày 29/11/2024, T tiếp tục lấy trộm 55 cái van bỏ vào 02 bịch nylon màu đen và 01 bình giữ nhiệt bằng nhựa màu xanh. Sau đó T đem giấu bình giữ nhiệt và 01 bịch đựng van bên ngoài cửa xưởng, bịch đựng 21 van còn lại mang ra bỏ vào cốp xe mô tô biển số 60C2-213-51 ngoài nhà xe công ty. Khi T quay lại xưởng tiếp tục làm việc thì thấy công nhân bộ phận “QC” kiểm tra phát hiện 34 cái van đựng trong bình giữ nhiệt và bịch nylon màu đen T vừa cất giấu. Công ty N trên bị công nhân công ty trộm cắp cất giấu nên báo cho Đồn Công an khu công nghiệp N1 lập hồ sơ xử lý. Đến 15 giờ 25 phút cùng ngày, T nhận thấy hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nên đến Đồn công an khu công nghiệp đầu thú khai nhận sự việc lấy trộm như trên và giao nộp 316 van đầu chai LPG. Đồn công an khu công nghiệp N1 lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 55 van đầu chai LPG, mỗi van nặng 0,305kg, tổng trọng lượng là 18kg có giá trị là 2.250.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 107/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 316 van đầu chai LPG, tổng trọng lượng là 100kg có giá trị là 12.500.000 đồng.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 67/CT-VKSNT ngày 13/02/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt:
3
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phạm Đình T mức án từ 12 tháng đến 14 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
* Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần K – Chi nhánh B đã nhận lại tài sản là 371 van đầu chai LPG và không yêu cầu T bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
* Về tang vật thu giữ và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bịch nylon màu đen và 01 bình giữ nhiệt màu xanh là công cụ T dùng vào việc phạm tội.
- Trả chiếc xe mô tô biển số 60C2-213-51 cho chủ sở hữu Lê Thị H3 do chị H3 không biết Phạm Đình T mượn chiếc xe trên dùng vào việc phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSNT ngày 13/02/2025. Bị cáo không tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N1, tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đình T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án. Cho thấy: Từ ngày 30/9/2024 đến ngày 29/11/2024, tại Công ty Cổ phần K – Chi nhánh B, thuộc khu công nghiệp V, huyện N; Phạm Đình T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 371 van đầu chai LPG, có giá trị là 14.750.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thì bị phát hiện xử lý. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Đình T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, bản Cáo trạng số 67/CT-VKSNT ngày 13/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo về tội
4
danh và điều luật theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tội phạm mà bị cáo Phạm Đình T thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo đang là công nhân của bị hại, có trình độ nhận thức, được nhận tiền lương hàng tháng tương xứng với công việc được giao nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, dùng thủ đoạn lén lút trộm cắp tài sản của bị hại là 371 van đầu chai LPG, có giá trị là 14.750.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) trong khoảng thời gian từ ngày 30/9/2024 đến ngày 29/11/2024 nên cần xét xử nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, khi phạm tội đã chủ động đầu thú phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm gì cho thấy bị cáo tự cải tạo bản thân tốt và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phạt tù giam bị cáo mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa bản thân và cũng nhằm cho bị cáo thấy rõ được chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự mà phấn đấu cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh và mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần K – Chi nhánh B đã nhận lại tài sản là 371 van đầu chai LPG và không yêu cầu T bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 02 bịch nylon màu đen và 01 bình giữ nhiệt màu xanh là công cụ T dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- Trả chiếc xe mô tô biển số 60C2-213-51 cho chủ sở hữu Lê Thị H3 do chị H3 không biết Phạm Đình T mượn chiếc xe trên dùng vào việc phạm tội.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T – 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Đình T cho Ủy ban nhân dân Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ Luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 02 bịch nylon màu đen và 01 bình giữ nhiệt màu xanh là công cụ bị cáo T dùng vào việc phạm tội.
- Trả chiếc xe mô tô biển số 60C2-213-51 cho chủ sở hữu Lê Thị H3 do chị H3 không biết Phạm Đình T mượn chiếc xe trên dùng vào việc phạm tội.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Buộc bị cáo Phạm Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Hữu Chí |
6
Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 52/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ ngày 30/9/2024 đến ngày 29/11/2024, tại Công ty Cổ phần kinh doanh khí miền Nam – Chi nhánh bình khí, thuộc khu công nghiệp Vinatex Tân Tạo, huyện Nhơn Trạch; Phạm Đình Tuân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 371 van đầu chai LPG, có giá trị là 14.750.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thì bị phát hiện xử lý
