|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/DS-ST Ngày 27 – 02 – 2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Thanh Phong
Bà Nguyễn Kim Kết
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần C1; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn:
1. Ông Lê Văn C, sinh năm 1970; Địa chỉ cư trú: Số M, khu V, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ liên lạc: Số B, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (văn bản ủy quyền ngày 15/10/2024) (có mặt);
2. Bà Cao Thị Hà G, sinh năm 1978; Địa chỉ liên lạc: Số B, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (văn bản ủy quyền ngày 15/10/2024) (vắng mặt);
- Bị đơn:
1. Ông Trương Hòa T, sinh năm 1993; Nơi đăng ký HKTT: ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Hậu Giang; địa chỉ cư trú hiện tại: khóm B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
2. Bà Huỳnh Mộng N, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau;
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Huỳnh Mộng N: Ông Trương Hòa T, sinh năm 1993; Nơi đăng ký HKTT: ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Hậu Giang; địa chỉ cư trú hiện tại: khóm B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/10/2023, Công ty Cổ phần C1 (sau đây gọi tắt là công ty) và bà Huỳnh Mộng N có ký hợp đồng mua bán số 49917/HĐMB để mua các loại thức ăn thủy sản.
Sau khi ký hợp đồng, bà N và công ty đã thực hiện việc mua bán hàng, thanh toán đầy đủ theo từng đơn hàng như đã thỏa thuận. Cuối năm 2023, bà N đặt hàng nhưng chỉ thanh toán được một phần tiền của đơn hàng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của các đơn hàng từ ngày 16/12/2023 đến ngày 21/12/2023 và còn nợ lại công ty số tiền 262.532.038 đồng.
Nay công ty yêu cầu bà Huỳnh Mộng N và ông Trương Hòa T phải có nghĩa vụ thanh toán cho công ty tổng số tiền mua bán thức ăn thủy sản tính đến ngày 27/02/2025 là 279.361.340 đồng, trong đó vốn là 262.523.038 đồng; lãi suất chậm trả từ ngày 01/8/2024 đến ngày 31/8/2024 là 2.549.769 đồng từ ngày 01/9/2024 đến ngày 27/02/2025 (0.03%/ngày) = 14.176.244 đồng; thuế thu nhập cá nhân theo hợp đồng khi chiết khấu và quà tặng lại cho bị đơn tính trong tháng 8/2024 là 112.289 đồng.
* Ông Trương Hòa T trình bày:
Ông và bà N là vợ chồng nhưng đã ly hôn vào ngày 29/02/2024. Khoảng năm 2020-2021 ông và bà N đến khóm B, thị trấn Đ để đăng ký tạm trú, thuê nhà và kinh doanh buôn bán. Bà N mua thức ăn nuôi tôm từ công ty và làm đại lý bán lại cho khách hàng. Khi ly hôn, ông và bà N tự thỏa thuận phần tài sản chung và không khai nợ chung. Thời điểm kinh doanh buôn bán, giao dịch mua bán, giấy tờ đều để tên bà N, nên ký kết hợp đồng cũng do bà N trực tiếp thực hiện, ông không tham gia, ông đi làm và kinh doanh thêm bên ngoài. Quá trình giao dịch mua bán với công ty bà N cũng có mở sổ tiết kiệm để đảm bảo tại công ty số tiền 300.000.000 đồng, cũng do một mình bà N vay mượn số tiền này, ông không biết. Mục đích bà N kinh doanh phục vụ kinh tế chung trong gia đình và ông cũng đi làm mục đích lo cho con và tạo kinh tế trong gia đình.
Nay ông thống nhất bà N có nợ và đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 279.361.340 đồng tính cả lãi suất chậm trả. Tuy nhiên, ông T xác định khoản nợ này ông sẽ tự đứng ra thanh toán cho công ty mà không yêu cầu bà N trả vì bà N đã ủy quyền cho ông trả số nợ này.
* Bà Huỳnh Mộng N trình bày:
Bà và ông T chung sống năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ. Sau khi kết hôn chung sống với cha mẹ ruột của bà N ở ấp T, xã T, huyện Đ. Đến năm 2021 đến thị trấn Đ để đăng ký tạm trú, thuê nhà và kinh doanh buôn bán. Do mâu thuẫn nên bà và ông T đã ly hôn vào năm 2024, quá trình ly hôn không có tài sản chung và không khai nợ chung. Tuy nhiên, thời điểm kinh doanh buôn bán thì mọi giao dịch mua bán giấy tờ đều để tên bà N, hợp đồng mua bán khi ký với công ty cũng do bà N một mình ký nhưng bà xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng, bởi quá trình giao dịch mua bán ông T cũng cùng bà làm kinh tế chung trong gia đình.
Nay bà thống nhất có nợ và đồng ý trả cho công ty K lãi suất chậm trả. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên yêu cầu trả dần cho công ty 2.000.000 đồng/tháng và yêu cầu công ty không tính lãi suất tiếp.
* Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ y yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn ông T và bà N cùng có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ như nêu trên. Đồng thời xác định quá trình giao dịch mua bán ông T biết bà N mua bán thức ăn với công ty, ông T cũng thừa nhận có gặp các nhân viên của công ty đến cửa hàng giao dịch, thời điểm giao dịch mua bán ông T là chồng của bà N, nên khoản nợ này mặc dù bà N là người trực tiếp ký kết hợp đồng nhưng là khoản nợ chung của bà N và ông T trong thời kỳ hôn nhân.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông T, bà N đều có yêu cầu đưa ông Nguyễn Như H là nhân viên công ty vào tham gia tố tụng vì ông H trực tiếp đại diện công ty hỗ trợ kinh doanh, chăm sóc khách hàng, hỗ trợ kỹ thuật khi nuôi tôm và biết khách hàng khác còn nợ tiền của của ông T, bà N. Tại phiên tòa, ông T với tư cách là người đại diện ủy quyền của bà N yêu cầu số nợ này do một mình ông T trả, đồng thời yêu cầu công ty hỗ trợ một phần để tạo điều kiện cho ông T trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Trương Hòa T và bà Huỳnh Mộng N yêu cầu Tòa án đưa ông Nguyễn Như H vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, ông T và bà N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của ông H, mặt khác ông T, bà N yêu cầu đưa ông H vào nhằm mục đích xem xét trách nhiệm của ông H trong việc đại diện công ty hỗ trợ kinh doanh, chăm sóc khách hàng và biết việc khách hàng khác còn nợ ông T, bà N chứ không phải buộc ông H hay công ty chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại để đối trừ phần nợ gì cho ông T, bà N. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của ông T, bà N.
[1.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Cao Thị Hà G vắng mặt không lý do, tuy nhiên tại văn bản ủy quyền ngày 15/10/2024 thể hiện nguyên đơn ủy quyền cho bà Cao Thị Hà G và ông Lê Văn C tham gia tố tụng, trường hợp một bên vắng mặt thì người còn lại vẫn có quyền, nghĩa vụ đại diện cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử xử căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà G là phù hợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Công ty khởi kiện yêu cầu ông T và bà N có địa chỉ tại huyện Đ, tỉnh Cà Mau trả lại số tiền mua bán thức ăn thủy sản, thời điểm ký hợp đồng và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đều xác định hợp đồng ký kết với bà N là cá nhân tham gia giao dịch mua bán, không ký với bà N tư cách đại diện hộ kinh doanh. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng hợp đồng mua bán tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
[3] Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
[3.1] Công ty yêu cầu ông T và bà N trả số tiền 279.361.340 đồng, trong đó vốn là 262.523.038 đồng; lãi suất chậm trả từ 01/8/2024 đến ngày 31/8/2024 là 2.549.769 đồng từ ngày 01/9/2024 đến ngày 27/02/2025 (0,03%/ngày) = 14.176.244 đồng; thuế thu nhập cá nhân theo hợp đồng khi chiết khấu và quà tặng lại cho bị đơn tính trong tháng 8/2024 là 112.289 đồng. Xét thấy, Hợp đồng mua bán số 49917/HĐMB ngày 03/10/2023 (BL 15, 16, 17, 18) giữa công ty và bà N được ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với các quy định pháp luật, được bà N xác nhận biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/7/2024 là 280.146.366 đồng (BL 13) và bà N thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án nợ vốn đến ngày 01/8/2024 là 262.523.038 đồng nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Về lãi suất và khoản thuế thu nhập cá nhân trên số tiền chiết khấu, quà tặng mà công ty yêu cầu được các bên thỏa thuận tại khoản 4 Điều 3 và khoản 4 Điều 5 của hợp đồng này. Theo đó trường hợp chậm thanh toán nợ thì công ty có quyền áp dụng mức lãi suất trên nợ gốc chưa thanh toán không vượt quá 20%, do đó công ty yêu cầu mức lãi suất 0,03%/tháng là phù hợp quy định pháp luật về lãi suất tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Bà N thừa nhận nợ nhưng cho rằng hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả tất cả các khoản nợ mà công ty yêu cầu kể cả lãi suất chậm trả theo hình thức trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng.
[3.2] Xét về trách nhiệm trả nợ: Công ty yêu cầu ông T và bà N cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ. Ông T xác định đây là khoản nợ của bà N không phải nợ chung của ông và bà N trong quá trình chung sống, đồng thời với tư cách là người đại diện ủy quyền của bà N tại tòa ông T xác định ông đã nhận được ủy quyền của bà N ủy quyền cho ông đứng ra trả nợ thay cho bà N nên ông không đồng ý yêu cầu của công ty về việc buộc trách nhiệm của hai người cùng trả nợ. Xét thấy yêu cầu này của ông T và bà N không có cơ sở, bởi lẽ trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà N đều thừa nhận đây là nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, bà N và ông T đều xác định mục đích kinh doanh mua bán là phục vụ nhu cầu kinh tế chung trong gia đình. Tại phiên tòa ông T liên tục cho rằng không hề hay biết bà N giao dịch mua bán với công ty, nhưng tại đơn yêu cầu đề ngày 25/02/2025 cùng đứng tên Huỳnh Mộng N và Trương Hòa T do ông T nộp cho Tòa án về việc yêu cầu đưa ông Nguyễn Như H vào tham gia xét xử có nêu: “Em NGUYỄN NHƯ HOÀN, nhân viên công ty cổ phần C1 trực tiếp làm việc với chúng tôi đi chăm sóc khách hàng tận ao và biết chúng tôi cố gắng vay tiền mua tiền mặt vài lần, chúng tôi không vay được nửa chúng tôi có báo Em H cùng với người khách đó em H biết và đến tận ao chăm sóc. Em H biết khách hàng đó không trả nợ cho chúng tôi...”. Từ nội dung này cho thấy ông T hoàn toàn biết quá trình giao dịch mua bán thức ăn với công ty, mặc dù bà N đứng tên ký các hợp đồng với công ty nhưng ông T biết, không phản đối và cùng tham gia giao dịch với bà N. Đồng thời, tại buổi hòa giải ông cũng thừa nhận nợ và đồng ý có trách nhiệm trả cho công ty. Do đó, xác định đây là khoản nợ chung của ông T, bà N trong thời kỳ hôn nhân là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: “2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;”. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng: “2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”. Hiện tại ông T, bà N đã ly hôn nên mỗi người phải trả ½ khoản nợ nêu trên và phải chịu trách nhiệm liên đới. Ngoài ra, tại phiên tòa ông T yêu cầu công ty phải hỗ trợ cho ông một phần đối với khoản nợ nêu trên nhưng ông không yêu cầu rõ công ty phải hỗ trợ bao nhiêu và phần hỗ trợ này cấn trừ vào khoản nợ hiện tại như thế nào, do đó không có cơ sở xem xét yêu cầu này của ông T.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở buộc ông T, bà N cùng có trách nhiệm liên đới trả cho công ty số tiền 279.361.340 đồng là phù hợp theo quy định tại tại Điều 430 và khoản 1 Điều 440 Bộ Luật dân sự.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông T và bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 13.968.067 đồng (279.361.340 đồng x 5%) tương ứng số tiền phải trả cho nguyên đơn. Trong đó ông T và bà N mỗi người phải chịu 6.984.033 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 244; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430 và khoản 1 Điều 440 Bộ Luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C1.
Buộc ông Trương Hòa T và bà Huỳnh Mộng N cùng có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty cổ phần C1 số tiền mua thức ăn thủy sản là 279.361.340 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi đồng). Trong đó vốn là 262.523.038 đồng, lãi suất 16.726.013 đồng, thuế trên chiết khấu quà tặng 112.289 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Ông Trương Hòa T phải chịu 6.984.033 đồng (sáu triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn không trăm ba mươi ba đồng), (chưa nộp).
2.2. Bà Huỳnh Mộng N phải chịu 6.984.033 đồng (sáu triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn không trăm ba mươi ba đồng), (chưa nộp).
2.3. Công ty cổ phần C1 không phải chịu, hoàn trả cho Công ty cổ phần C1 số tiền tạm ứng đã nộp 6.750.000 đồng (sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002493 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc T1 |
Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 52/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán thức ăn nuôi tôm
