|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-02-2025 “V/v tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Huỳnh Văn Minh
- Ông Nguyễn Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 506/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Dương Thị Thúy H năm: 1984
Địa chỉ: tổ 07, ấp Mỹ Quới, xã Mỹ Đức Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn: anh Đặng Nghĩa T sinh năm: 1983
Địa chỉ: tổ G, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10 tháng 9 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Dương Thị Thúy H1 trình bày: chị và anh Đặng Nghĩa T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2005, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T hay cớ bạc, không lo cho gia đình nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay không có hàn gắn tình cảm. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: vợ chồng có 03 con chung tên Đặng Hồng N, sinh năm 2006 đã trưởng thành; Đặng Kim N1, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2013 hiện đang sống với anh T và Đặng Bảo N2, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2022 hiện đang sống với chị; ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu Đặng Bảo N2, đồng ý để anh T nuôi cháu Đặng Kim N1 còn con lớn là Đặng Hồng N đã trưởng thành trên 18 tuổi nên chị không có yêu cầu gì, chị và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con đối với nhau. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đặng Nghĩa T đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh T không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H1.
Tại phiên tòa chị H1 vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt), anh T đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H1, anh T là phù hợp điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền: chị Dương Thị Thúy H1 khởi kiện anh Đặng Nghĩa T về việc xin ly hôn. Anh T cư trú tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Dương Thị Thúy H1 và anh Đặng Nghĩa T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2005 được Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30 tháng 8 năm 2005 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H1 và anh T được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống theo chị H1 xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn do anh T hay cớ bạc, không lo cho gia đình nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Còn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H1 chứng tỏ anh T không còn quan tâm đến quan hệ vợ chồng. Mặt khác, chị H1 và anh T cũng có thời gian dài không còn chung sống với nhau và anh chị cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm của mình thể hiện qua việc chị H1 kiên quyết xin ly hôn với anh T cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H1 và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị H1 ly hôn với anh T là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: chị H1 và anh N3 có 03 con chung tên Đặng Hồng N, sinh năm 2006 đã trưởng thành; Đặng Kim N1, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2013 hiện đang sống với anh T và Đặng Bảo N2, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2022 hiện đang sống với chị; ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu Đặng Bảo N2, đồng ý để anh T nuôi cháu Đặng Kim N1 còn con lớn là Đặng Hồng N đã trưởng thành trên 18 tuổi nên chị không có yêu cầu gì. Anh T vắng mặt nên không có ý kiến về việc nuôi con chung. Xét thấy, cháu Đặng Bảo N2 dưới 36 tháng tuổi, đang sống với chị H1 đã ổn định và về nguyên tắc khi ly hôn con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nên giao cháu Bảo N2 cho chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Đối với cháu Đặng Kim N1 đang sống với anh T và ông bà nội đã ổn định, cần tránh sự xáo trộn cuộc sống của cháu Kim N1 nên giao cháu Kim N1 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp nguyện vọng của cháu Kim N1 mong muốn được sống vớ anh T. Đối với cháu Đặng Hồng N đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H1, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị H1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 35, Điều 39, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Dương Thị Thúy H1 và anh Đặng Nghĩa T.
- Về nuôi con chung:
- Giao 01 con chung tên Đặng Bảo N2, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2022 cho chị Dương Thị Thúy H1 trực tiếp nuôi dưỡng.
- Giao 01 con chung tên Đặng Kim N1, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2013 cho anh Đặng Nghĩa T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Dương Thị Thúy H1 và anh Đặng Nghĩa T do chị H1 và anh T không yêu cầu.
- Chị Dương Thị Thúy H1 và anh Đặng Nghĩa T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Nếu chị H1, anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị H1 và anh T đều có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với nhau.
- Về án phí: chị Dương Thị Thúy H1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015853 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; chị H1 đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
Nguyễn Thanh Vũ |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Dương Thị Thúy H yêu cầu ly hôn anh Đặng Nghĩa T.
