Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25/02/2025

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Ông Đặng Thiên Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 25/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 319/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/11/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Người đại diện nhận văn bản tố tụng của anh H: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của chị L tại Việt Nam: thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chị L hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Phan Văn C, sinh năm 1971 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai anh Nguyễn Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phan Thị L kết hôn ngày 05/4/2019, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện L. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Tháng 6/2024, chị Phan Thị L đi lao động tại Ma Cao. Sau đó giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng xa cách, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau và không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Phan Thị L được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/10/2019 và cháu Nguyễn Quỳnh S, sinh ngày 11/8/2023. Hiện nay cháu K đang sinh sống cùng anh, còn cháu S đang sinh sống cùng ông ngoại là Phan Văn C. Khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu K cho anh nuôi dưỡng. Đối với cháu S đề nghị Tòa án giao cho chị L nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông C nuôi dưỡng trong thời gian chị L ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là chị Phan Thị L hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị L đến nay không nhận được thông tin của chị L.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn C trình bày:

Ông là bố đẻ của chị Phan Thị L, chị L hiện đang lao động tại nước ngoài. Ông vẫn thường xuyên liên hệ với chị L qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của chị L ở nước ngoài. Ông đã thông báo cho chị L về việc anh H đề nghị ly hôn. Cháu S hiện đang ở cùng ông, đề nghị Tòa án giao cháu S cho chị L nuôi dưỡng và đồng ý nuôi dưỡng cháu S trong thời gian chị L ở nước ngoài, không đề nghị giải quyết việc cấp dưỡng.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H và ông C xin vắng mặt. Chị L vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H. Xử: Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Phan Thị L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Quỳnh S cho chị Phan Thị L nuôi dưỡng giáo dục nhưng tạm giao cho ông Phan Văn C nuôi dưỡng trong thời gian chị L ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với chị Phan Thị L. Bị đơn chị Phan Thị L có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 28347/QLXNC ngày 29/11/2024 của Cục Q - Bộ C1 thì chị Phan Thị L đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 18/5/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh H và ông C có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với ông Phan Văn C là bố đẻ của chị L xác định hiện chị L đang ở nước ngoài nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của chị L ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị L theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Phan Thị L kết hôn với nhau ngày 05/4/2019 tại UBND xã C, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị L. Xem xét đơn khởi kiện của anh H, HĐXX thấy: Đến nay anh H và chị L đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Chị L hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, anh H xác định không còn tình cảm và vợ chồng đã ly thân. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, xử cho anh H được ly hôn với chị L.

[4]. Về con chung: Anh H và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/10/2019 và cháu Nguyễn Quỳnh S, sinh ngày 11/8/2023, hiện nay cháu K đang ở cùng anh H và cháu S ở cùng ông ngoại là Phan Văn C. Anh H có ý kiến trình bày đề nghị giao cháu K cho anh nuôi dưỡng và giao cháu S cho chị L nuôi dưỡng. Ông C đồng ý nuôi dưỡng cháu S thay chị L. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và giao cháu S cho chị L nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông C nuôi dưỡng cháu S trong thời gian chị L ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Anh H không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Phan Thị L.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 26/10/2019 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Giao cháu Nguyễn Quỳnh S, sinh ngày 11/8/2023 cho chị Phan Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho ông Phan Văn C chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị L về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000202 ngày 21/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  2. Về quyền kháng cáo:
    • - Chị Phan Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Anh Nguyễn Văn H và ông Phan Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Chu Điện, huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiệp ly hôn Lanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger