|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07-02-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị Lương và anh Thành |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ánh Tuyết
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 460/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1988; Nơi đăng ký thường trú: số B đường V, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Số căn cước công dân [...]. Vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Huy T, sinh năm 1981; Nơi đăng ký thường trú: số B đường V, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Số căn cước công dân [...]. Vắng mặt tại phiên toà lần 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình đề ngày 20-11-2024 trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là chị Hoàng Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Huy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu khoảng 03 năm và có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 23-11-2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, anh T không tu chí làm ăn, không chăm sóc quan tâm vợ con. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L có nguyện vọng xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Hoàng Thị L trình bày vợ chồng có 02 con chung là Trần Huy S, sinh ngày 01-01-2009, giới tính nam và Trần Thị L1, sinh ngày 17-7-2010 giới tính nữ. Hiện tại cả hai con đang ở với chị L. Về việc nuôi con: Chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị L xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc không thể tham gia phiên tòa nên ngày 24-12-2024 chị Hoàng Thị L đã có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt,
2. Bị đơn là anh Trần Huy T đã được tống đạt hợp lệ bằng hình thức niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh T không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh T không có quan điểm để giải quyết vụ án
3. Tại biên bản thu thập tài liệu, chứng cứ ngày 03-12-2024 tại tổ dân phố số B phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định xác nhận: Quá trình chung sống của chị L và anh T có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống vợ chồng không hợp. Về con chung: Vợ chồng chị L và anh T có hai con chung là Trần Huy S, sinh ngày 01-01-2009, giới tính namTrần Thị Loan, sinh ngày 17-7-2010 giới tính nữ.tại đều đang ở cùng với chị L.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án đã không cung cấp bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, 02 lần vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Như vậy bị đơn đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị L và anh T. Về con chung: Vợ chồng chị L và anh T có hai con chung là Trần Huy S, sinh ngày 01-01-2009, giới tính namTrần Thị Loan, sinh ngày 17-7-2010 giới tính nữ.tại các con chung đang ở cùng với chị L nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu chị L, giao con Trần Huy S và Trần Thị L1 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và vay nợ chung: chị L không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị L có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn là anh Trần Huy T đã được Tòa án tống đạt bằng hình thức niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228. Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Trần Huy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 23-11-2007 nên hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay và không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được ly hôn với anh T. Đối với anh T, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để viết bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh T không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị L và anh T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về việc nuôi con: Chị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con hai con Trần Huy S và Trần Thị L1 sau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, các con Trần Huy S và Trần Thị L1 hiện đang sinh sống ổn định cùng chị L và đều có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Đối với anh T không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tại phiên tòa để trình bày về việc nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung và theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giao con Trần Huy S và Trần Thị L1 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Trần Huy T.
- Về nuôi con chung: Giao con Trần Huy S, sinh ngày 01-01-2009, giới tính namTrần Thị Loan, sinh ngày 17-7-2010 giới tính nữ cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Hoàng Thị L đã nộp tại Biên lai số 0002463 ngày 29-11-2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị L và anh Trần Huy T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Kim Huế |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Hoàng Thị L yêu cầu ly hôn anh Trần Huy T
