Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày: 23/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Nghị.

2. Bà Ngô Thị Tuyết .

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 321/2024/TLST-HS ngày 02/12/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06/01/2025, đối với bị cáo:

NGUYỄN VÕ HỮU P

- Sinh ngày: 03 tháng 08 năm 2000, tại Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hữu H (đã chết) và bà Võ Thị Hồng P1, sinh năm 1950; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 13/8/2024, chuyển tạm giam ngày 22/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Trần Thanh S - Sinh năm: 1962; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 13/8/2024, Nguyễn Võ Hữu P đang ở nhà tại thôn X, xã P, thành phố P thì bạn của P tên thường gọi là T (không rõ nhân thân) sử dụng tài khoản Zalo “A thắng” gọi bằng ứng dụng Zalo đến điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, bên trong chứa Sim số 0348609476 và Sim số 0362198477 của P, T yêu cầu P đến đường N, xã P, thành phố P gặp T để nhận ma tuý đá đi bán dùm thì P đồng ý. P điều khiển xe mô tô, hiệu Xiongshi, màu xanh, biển số 86F6 - 5865 đến gặp T nhận 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (07x04) cm, bên trong chứa ma tuý đá rồi cất vào túi quần phía trước, bên phải. T nói P cầm gói ma tuý trên đi đến đường hẻm gần tiệm cầm đồ 5S trên đường Đ, khu phố D, phường X, thành phố P giao cho người mua rồi nhận số tiền 1.100.000 đồng, trong đó T cho P 100.000 đồng thì P đồng ý. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển số 86F6 - 5865 lưu thông đến khu vực hẻm S, đường Đ, khu phố D, phường X, thành phố P thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) - Công an tỉnh B cùng Công an phường X phát hiện P có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa P cùng tang vật về trụ sở làm việc. Qua làm việc, P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 992/KL-KTHS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 2,4577 gam là Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • 01 (một) gói nylon không màu, có khoá kéo viền đỏ, kích thước khoảng (07 x 04) cm và 2,3942 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 992 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số imei 1: 860347049767878, số imei 2: 860347049767886, bên trong chứa sim số 0348609476 và sim số 0362198477.
  • 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Xiongshi, màu xanh, biển số 86F6 - 5865.

Hiện tại vật chứng đã được nhập kho Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 55 ngày 04/12/2024.

Tại Bản Cáo trạng số 315/CT-VKSPT-HS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố: Bị cáo Nguyễn Võ Hữu P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Võ Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Phạt Nguyễn Võ Hữu P từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành: 01(một) phong bì niêm phong số 992 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số imei 1: 860347049767878, số imei 2: 860347049767886, bên trong chứa sim số 0348609476 và 0362198477; 01(một) chiếc xe mô tô hiệu Xiongshi, màu xanh, biển số 86F6 – 5865 là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Võ Hữu P khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/8/2024 khi đang điều khiển xe mô tô biển số 86F6 - 5865 lưu thông đến khu vực hẻm S, đường Đ thuộc khu phố D, phường X, thành phố P, Nguyễn Võ Hữu P đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,4577 gam là Methamphetamine thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) - Công an tỉnh B cùng Công an phường X kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P.

Bị cáo Nguyễn Võ Hữu P có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nguyễn Võ Hữu P đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,4577gam ma túy là Methamphetamine nhằm mục đích đi bán giùm cho đối tượng tên T (không rõ nhân thân) để hưởng lợi số tiền 100.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Võ Hữu P khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành: 01 (một) phong bì niêm phong số 992 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số imei 1: 860347049767878, số imei 2: 860347049767886, bên trong chứa sim số 0348609476 và sim số 0362198477; 01(một) chiếc xe mô tô hiệu Xiongshi, màu xanh, biển số 86F6 - 5865, thu giữ của Nguyễn Võ Hữu P, là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

[7] Xét đối tượng có liên quan: Đối với đối tượng tên T (người đã giao ma túy cho P đi bán) do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Võ Hữu P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Nguyễn Võ Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Võ Hữu P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2024.

Về xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 992 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh, có số imei 1: 860347049767878, số imei 2: 860347049767886, bên trong chứa sim số 0348609476 và sim số 0362198477; 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Xiongshi, màu xanh, biển số 86F6 - 5865.

(Vật chứng đã được nhập kho tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 55 ngày 04/12/2024).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Võ Hữu P phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/01/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Cơ quan hành án hình sự thành phố Phan Thiết;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Võ Hữu P phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger