|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 12 - 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần người tiến hành tố tụng sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn số 53/2024/QĐ-TA ngày 27/11/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Anh Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/3/2005, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.
Nơi cư trú: Thôn A T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Viết H và bà Mai Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/5/2021, có hành vi trộm cắp tài sản, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và T hoãn xuất cảnh từ ngày 12/11/2024 cho đến nay, theo Giấy triệu tập có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Bà Mai Thị P, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2024, Lê Anh Q đang ngồi chơi trước nhà ở của mình thì nhìn thấy vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Mai Thị P (ở nhà đối diện) thuộc thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, rời khỏi nhà. Lúc này, Q nảy sinh ý định đột nhập nhà ở ông T1, bà P1 trộm cắp tài sản. Quyền đi bộ qua thì thấy cửa
chính nhà đang khóa, nên đi bộ vòng ra phía sau vườn để tìm cách đột nhập. Tại đây, Q phát hiện thấy có 01 cái Thang bằng kim loại đang dựng ở vách tường nhà, Q đi đến dùng thang leo lên mái ngói nhà bếp, tháo dở khoảng 10 viên ngói rồi đột nhập vào nhà theo lối từ trên mái xuống. Khi vào nhà Q đi vào phòng ngủ của vợ chồng ông T1, bà P lục tìm tài sản, thì phát hiện thấy 01 túi vải màu đỏ, bên trong có 01 xấp tiền Polime loại tiền Ngân hàng N mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), Q đi đến rút lấy 01 xấp tiền trị giá 15.000.000 đồng, bỏ vào túi quần, số tiền còn lại cùng túi vải màu đỏ Quyền bỏ lại vị trí ban đầu. Sau khi lấy được tiền, Quyền tẩu thoát rồi đi vào thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình tiêu xài hết số tiền lấy trộm được. Đến ngày 24/11/2024, Lê Anh Q đến Công an xã T tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Không.
* Về dân sự: Quá trình điều tra Lê Anh Q cùng gia đình đã tự thỏa thuận bồi thường cho người bị hại số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Người bị hại ông Nguyễn Văn T1 và bà Mai Thị P đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Anh Q.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 53/QĐ -VKSTH ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Lê Anh Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Thẩm phán áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Anh Q từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên đề nghị Thẩm phán không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; phần bồi thường dân sự các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố và đề nghị Thẩm phán xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại ông Nguyễn Văn T1 và bà Mai Thị P vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông T1, bà P vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy sự vắng mặt của ông T1, bà P không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Thẩm phán quyết định xét xử vắng mặt ông T1, bà P.
[3] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản xác định hiện trường vụ án, sơ đồ hiện trường vụ án, bản ảnh nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Thẩm phán có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/10/2024, tại nhà ở của vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Mại Thị P2 ở thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Lê Anh Q là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản ông Nguyễn Văn T1, bà Mai Thị P, đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lê Anh Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Lê Anh Q về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ mục đích cá nhân nhưng không bằng sức lao động của chính mình, điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại đối với bị hại, được bị hại ghi nhận, xác nhận đã bồi thường xong nên trong quá trình điều tra có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo đã đến Công an xã T tự thú. Do đó, Thẩm phán qua đánh giá quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.
[7]. Về nhân thân: Ngày 13/7/2021, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên bị cáo có nhân thân không tốt.
[8] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, tuy bị cáo Lê Anh Q có nhân thân xấu nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rỏ ràng và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho bị hại ông T1, bà P. Ông T1, bà P đã nhận đủ số tiền và cam đoan chấm dứt phần dân sự, không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường nên Thẩm phán không xem xét.
[10] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự quy định “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước” và theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập và cũng không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[11] Về xử lý tài liệu, vật chứng: Không.
[12] Về án phí: Bị cáo Lê Anh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 các điểm b, i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố bị cáo Lê Anh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt Lê Anh Q 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án.
Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án (12/12/2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Giao bị cáo Lê Anh Q cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- Trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
- Án phí: Bị cáo Lê Anh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/12/2024); bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Anh Quyền
