Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ – ST.

Ngày: 29-11-2024.

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NÓT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Ngoan.

2. Bà Thái Ánh Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm T - sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng Q - sinh năm 1976. Địa chỉ cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/7/2024 và trong quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và Nguyễn Đăng Q do mai mối đã tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 12/10/2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống cũng đầm ấm, hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xảy ra cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông bà đã quyết định sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Từ khi sống ly thân bà và ông Q cũng không có giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông Q nên bà yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu cho bà được ly hôn với ông Q để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông Q chung sống có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 2006; Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2008; Nguyễn Phan Đông N, sinh năm 2011 hiện do ông Q đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà tự nguyện dành quyền nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Phan Đông N cho ông Q. Về cấp dưỡng nuôi con bà và ông Q sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Nguyễn Thị Kim Y đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt vấn đề yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và về nợ chung: Không.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/11/2024 bị đơn ông Nguyễn Đăng Q trình bày:

Ông thống nhất với ý kiến trình bày của bà Phan Thị Cẩm T về thời gian chung sống, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, thời gian vợ chồng sống ly thân cũng như nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn như bà T trình bày là đúng. Do ông và bà T sống ly thân đã lâu và nay tình cảm của ông đối với bà cũng không còn nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông thống nhất với ý kiến và yêu cầu bà T đã trình bày. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Đồng thời, do bận công việc gia đình nên ông Q yêu cầu được xét xử vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án ông Q, bà T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký và việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:

  • - Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị Cẩm T và ông Nguyễn Đăng Q.
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2008; Nguyễn Phan Đông N, sinh năm 2011 hiện đang sống cùng với ông Q cho ông Q tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà T không phải cấp dưỡng nuôi con cho ông Q. Đối với con chung Nguyễn Thị Kim Y đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: không.
  • - Về án phí: Bà Phan Thị Cẩm T phải nộp theo quy định.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm T và bị đơn ông Nguyễn Đăng Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà Phan Thị Cẩm T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đăng Q. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Đăng Q có địa chỉ cư trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do đó, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Q tiến đến hôn nhân vào năm 2004 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân bà T cho rằng do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xảy ra cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông bà đã quyết định sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Từ khi sống ly thân bà và ông Q cũng không có giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông Q nên bà yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và chấp nhận yêu cầu cho bà được ly hôn với ông Q. Về phía ông Q trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q cũng thống nhất mâu thuẩn của vợ chồng như bà T trình bày, ông cũng xác định không còn tình cảm với bà T đồng thời có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Từ đó cho thấy ông Q đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà T và ông cũng không có thiện chí hoà giải để hàn gắn tình cảm với bà T. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được và nay bà T yêu cầu được ly hôn, về phía ông Q cũng đồng ý. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông Q theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Bà T và ông Q chung sống có có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 2006; Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2008; Nguyễn Phan Đông N, sinh năm 2011 hiện do ông Q đang trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết ông bà thỏa thuận giao hai con chung cho ông Q tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà T không phải cấp dưỡng nuôi con cho ông Q. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung khi cha mẹ ly hôn Cháu Đ và N có nguyện vọng được sống với ông Q nên Hội đồng xét xử công nhận. Đối với con chung Nguyễn Thị Kim Y đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết là phù hợp.

3

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Q cho rằng ông có khả năng nuôi con nên không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã giải thích cho ông Q biết việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nhưng ông Q vẫn xác định không yêu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định pháp luật.

[5] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 51, 53, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị Cẩm T và ông Nguyễn Đăng Q.
  • - Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2008; Nguyễn Phan Đông N, sinh năm 2011 cho ông Q tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà T không phải cấp dưỡng nuôi con cho ông Q.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà T không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: không.
  • - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Cẩm T phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005623 ngày 11/10/2024 (công nhận bà T đã nộp xong).
  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4

5

Nơi nhận:

  • - TAND TP Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Thốt Nốt;
  • - Chi Cục THA DS Q. Thốt Nốt;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ – ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm T - sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng Q - sinh năm 1976. Địa chỉ cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger