Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

1

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 29-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Thọ

Bà Lê Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quang Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Phan Văn T, sinh năm 2003, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phan Văn H và bà Đỗ Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 18/7/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H; có mặt.
  2. Lương Văn K, sinh năm 2002, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm F, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lương Văn P và bà Vũ Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định số 240/QĐ-XPHC ngày 10/9/2020 của Công an huyện G ngày 10/9/2020 xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” (chấp hành xong ngày 15/9/2020); bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 18/7/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H cho đến nay; có mặt.

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1994; trú tại: xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
  2. Chị Bùi Thị H2, sinh năm 2001, trú tại: thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
  3. Chị Hà Thị Như Q, sinh năm 2005; trú tại: bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
  4. Cháu Chìu Thị T1, sinh ngày 20/7/2007; trú tại: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  5. Chị Đỗ Thị D, sinh năm 1979; trú tại: xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của cháu Chìu Thị T1: Anh Chìu A Ứ, sinh năm 1984, chị Tằng Thị B, sinh năm 1986 đều trú tại: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng (là bố mẹ đẻ), đều vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Phạm Khánh L;
  2. Anh Dương Thế V;
  3. Anh Phạm Văn L1;
  4. Anh Đinh Tuấn A;
  5. Anh Lã Ngọc L2;
  6. Anh Trần Đinh Hải L3;

(đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ15 phút, ngày 09/7/2024, bị cáo Phan Văn T sau khi uống bia cùng bị cáo Lương Văn K và Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1994, đều trú tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình ở khách sạn H3 thuộc phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình thì T mời K và Đ đi sử dụng ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 35C - 159.10 chở K vào huyện H, tỉnh Thanh Hóa đón bạn gái của Đ là Bùi Thị H2 còn T điều khiển xe mô tô BKS 35B1 - 982.38 (mượn của mẹ là bà Đỗ Thị D) đi sang khu vực cầu N thuộc địa phận huyện Ý, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không quen biết 6.000.000 đồng được 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy ăn màu trắng, bên trong có 02 túi ni lon màu trắng (một túi có 03 viên nén màu xám, 01 túi có chất tinh thể màu trắng, T khai đó là 03 viên ma túy kẹo và 02 chỉ ma túy Ketamine). T đi xe mô tô về nhà

3

tại xóm G, xã G, huyện G để cất xe và T gọi điện thoại cho anh Dương Thế V là quản lý của cơ sở kinh doanh karaoke Have Fun có địa chỉ tại xã N, huyện H để đặt phòng hát, gọi điện cho K bảo K gọi xe đón T. Lúc này, K và Đ đã đón được H2 và đang đi cùng ô tô ra thành phố N. K gọi điện thoại cho anh Phạm Văn L1, trú tại xóm F, xã G, huyện G là lái taxi đến đón T và gọi điện thoại cho bạn gái là Hà Thị Như Q, hiện đang thuê trọ tại thôn Q, xã N, huyện H rủ Q đi sử dụng ma túy. K nhờ Đ lái xe chở K đến nhà trọ của Q để đón Q cùng đi đến quán H4.

Khoảng hơn 03 giờ, ngày 09/7/2024, T đi taxi đến quán hát karaoke Have F và gọi điện cho Đinh Tuấn A là quản lý của cơ sở kinh doanh karaoke Have Fun ra mở cửa rồi được Trần Đinh Hải L3 là nhân viên phục vụ đưa lên tầng 3 vào phòng VIP7. Sau đó, T xuống bếp lấy một đĩa sứ hình bầu dục màu trắng mang lên phòng VIP7. Tại đây, T mở gói giấy ăn đổ 02 chỉ Ketamine ra đĩa rồi dùng thẻ cứng, bật lửa ga mang theo từ trước đốt tờ giấy ăn để hơ nóng đĩa và dùng thẻ cứng xào ketamine. Sau khi xào xong, T để ketamine và thẻ trên đĩa rồi lấy tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn ống hút và bỏ trên đĩa. Sau đó, T gọi điện thoại cho Lã Ngọc L2, sinh năm 2001, trú tại phố T, thị trấn T, huyện H thuê một nhân viên nữ đến phục vụ việc hát karaoke. Trong lúc đợi mọi người, T đã bẻ đôi 03 viên ma túy kẹo thành 06 mảnh, mỗi mảnh nửa viên và sử dụng trước 01 nửa viên, số ma túy còn lại T để trên bàn. Đến khoảng 04 giờ, Đ, K, H2, Q vào phòng thì T đưa cho Đ và H2 mỗi người một nửa viên ma túy kẹo, đưa cho K 02 nửa viên để K và Q sử dụng. K sử dụng nửa viên ma túy kẹo, còn lại nửa viên K để ở lòng bàn tay rồi xòe tay ra đưa cho Q sử dụng. Q lấy nửa viên kẹo uống cùng nước sting dâu. Sau khi sử dụng ma túy kẹo xong, T lấy đĩa ma túy đã xào từ trước, kẻ 02 đường ma túy tự sử dụng. Thuận để thẻ, ống hút trên đĩa và bỏ đĩa xuống bàn để mọi người sử dụng. Khoảng 5 phút sau có một nhân viên nữ tên là Phạm Khánh L đến, T đưa cho L 01 nửa viên ma tuý kẹo nhưng L không sử dụng nên đi về luôn. T gọi lại cho L2 để thuê thêm một nữ nhân viên. Lúc sau thì thấy Chìu Thị T1, sinh ngày 20/10/2007, trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh đến. T lấy nửa viên ma túy còn lại đưa cho T1 sử dụng. T cầm đĩa ma túy mời nhưng Đ không sử dụng, T mời H2 sử dụng 01 đường ketamine, mời T1 sử dụng 02 đường ketamine, mời Q sử dụng 02 đường ketamine. Khi thấy mọi người đã sử dụng hết các đường ma túy kẽ sẵn, T lại lấy đĩa ma túy kẻ 03 đường ketamine nữa để mọi người tiếp tục sử dụng. K thấy đĩa ketamine đã kẻ sẵn nên tự lấy sử dụng, sau đó mời Q sử dụng 03 lần ma túy ketamine và K kẻ 01 đường ketamine, giữ ống hút cho H2 sử dụng. K tiếp tục mang đĩa ketamine đến mời T. T sử dụng xong, K bê đĩa ketamine trước mặt T1, T1 lấy ống hút từ tay T đang cầm tự sử dụng 01 đường ketamine trên đĩa. Còn Đ sau khi được T mời ma túy kẹo xong thì nằm nghe nhạc và ngủ, lúc sau Đ ngồi dậy thấy đĩa ketamine trên bàn đã tự lấy sử dụng.

Đến 06 giờ, ngày 09/7/2024, Công an huyện H đến kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong phòng Vip 7 quán hát karaoke HaveFun: 01 đĩa sứ màu trắng hình bầu dục còn đựng ketamine chưa sử dụng hết, trên đĩa còn có 01 ống hút cuộn

4

bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng; 01 thẻ cứng có chữ “CHANEL”, thu giữ trong túi quần T 01 bật lửa gas màu tím có chữ “LỘC ÔNG BẦY”. Ngoài ra, còn thu giữ của K 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu vàng và thu giữ 05 điện thoại di động của Bùi Thị H2, Chìu Thị T1, Hà Thị Như Q, Phan Văn T, Nguyễn Mạnh Đ, 01 xe ôtô BKS 35C - 159.10.

Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành trưng cầu giám định chất tinh thể màu trắng thu trên đĩa, chiếc đĩa sứ màu trắng, tờ tiền pholyme mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ cứng có chữ “CHANEL” và vỏ túi nilon. Tại bản Kết luận giám định số: 618/KLGĐ-PC09-MT ngày 17/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,2666 gam là ma túy, loại Ketamine. Tìm thấy Ketamine bám dính trên đĩa sứ, trên thẻ cứng, trong ống hút gửi giám định, Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng; Tìm thấy MDMA và Ketamine bám dính trong túi nilon gửi giám định lượng MDMA và Ketamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.

Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ôtô biển kiểm soát 35C - 159.10 cho bà Phạm Thị T2 là mẹ đẻ của Đ; trả lại điện thoại đã thu giữ của chị H2, chị Q, chị T1, anh Đ. Chiếc điện thoại thu giữ của T được trả lại cho chị Đỗ Thị D là mẹ của T. Đối với sim số thuê bao 0398.540.003 thu giữ của Phan Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apphe Iphone 12 ProMax bên trong lắp sim số thuê bao 0396.777.135 thu của Lương Văn K; 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có mẫu vật hoàn trả là 01 bật lửa ga màu tím; 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có mẫu vật hoàn trả là 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 túi niêm phong bên trong có mẫu vật hoàn trả gồm: 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn bầu dục, 01 vỏ túi nilon, 01 thẻ cứng màu đen, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có mẫu vật hoàn trả là 0,2130 gam là ma túy loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 túi ni lon màu trắng trong có viền miệng mở túi màu đỏ, kích thước (6 x 9,5) cm thu giữ tại phòng víp 7 quán H4, ngày 09/7/2024, tại thôn Á, xã N, huyện H được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư để quản lý. Anh Dương Thế V không yêu cầu T phải thanh toán số tiền hát và không có yêu cầu nhận lại chiếc đĩa sứ mà T dùng để sào ketamine.

Bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-HL ngày 28/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố: các bị cáo Phan Văn T, Lương Văn K về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 255 của BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

5

  • áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ.
  • áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo K từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.
  • áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại đã thu giữ của bị cáo T, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.000 đồng và 01 điện thoại thu giữ của bị cáo K; tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại của vụ án.
  • áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận đã thực hiện hành vi nêu trên, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin HĐXX cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 3 giờ đến 6 giờ ngày 09/7/2024, Phan Văn T đã mua 03 viên ma túy dạng kẹo (MDMA), 02 chỉ ketamine với giá 6.000.000 đồng và thuê phòng hát VÍP 7 của quán H5 ở thôn Á, xã N, huyện H cùng với Lương Văn K tổ chức cho Nguyễn Mạnh Đ, Bùi Thị H2, Trần Thị Như Q1, Chìu Thị T1 (sinh ngày 20/10/2007) sử dụng trái phép thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi nêu trên của các bị cáo T, bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 255 của BLHS.

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a, ...

b, Đối với 02 người trở lên;

c, Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

...

6

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[2] Về vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm với nhau ở mức độ giản đơn. Với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, xác định bị cáo T là người giữ vai trò đầu, bị cáo K giữ vai trò cuối. Các bị cáo đều là người có năng lực hành vi đầy đủ, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy nói chung và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nói riêng không chỉ làm hao tổn sức khỏe, tiền bạc của các đối tượng mà còn là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo T đã có thành tích trong việc phòng chống tội phạm được cơ quan điều tra công an huyện G xác nhận nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của BLHS.

- Về nhân thân: Ngoài hành vi phạm tội đang bị xét xử, bị cáo K trước đây đã bị xử phạt vi phạm hành chính và đã đủ thời hiệu để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng cần xác định bị cáo có nhân thân xấu.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích nêu trên, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù với mức tương xứng để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều thực hiện hành vi không vì mục đích vụ lợi nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Biện pháp tư pháp: quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe ô tô, 01 xe mô tô và các điện thoại cho các chủ sở hữu và chuyển các vật chứng còn lại đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư là đúng quy định của pháp luật.

Đối với lượng ma tuý hoàn lại sau giám định và các túi nilon, bao bì niêm phong, đĩa sứ, thẻ cứng, bật lửa ga là vật cấm lưu hành hoặc vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ; điện thoại thu giữ của bị cáo K và số tiền 10.000 đồng

7

T dùng để cuộn ống hút là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về các vấn đề khác: Do không xác định được người đàn ông bán ma túy cho T nên không đủ cơ sở điều tra làm rõ.

Các đối tượng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không bàn bạc, giúp sức cho T và K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không phạm tội.

V, L2, Tuấn A không biết việc T thuê phòng để sử dụng ma túy nên không phạm tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T, bị cáo Lương Văn K phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

1.1. Đối với bị cáo Phan Văn T:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1 Điều 51 của BLHS

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09/7/2024.

1.2. Đối với bị cáo Lương Văn K:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS

Xử phạt bị cáo Lương Văn K 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09/7/2024.

2. Biện pháp tư pháp:

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 10.000 đồng và 01 điện thoại thu giữ của bị cáo K.

8

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 sim điện thoại thu của bị cáo T, 0,2130 gam Ketamine, túi nilon, vỏ bao gói niêm phong, vỏ phong bì niêm phong ban đầu, đĩa sứ, thẻ cứng, bật lửa ga.

(Những vật chứng nêu trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7b, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Hoa Lư;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Hoa Lư;
  • - THADS huyện Hoa Lư;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn K và Phan Văn T phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger