TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng, bà Nguyễn Thị Khuyên
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký TAND huyện Cư Jút.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hữu Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Văn Đ
, sinh năm 1985 tại tỉnh Cao Bằng; Nơi thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị K, sinh năm 1962; Bị cáo có vợ Dương Thị Đ1, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án: Không; Tiền sự: 01, ngày 27/12/2023 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C - Có mặt.
- Bị hại: Bà Long Thị L; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nông Xuân H; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
Anh Nguyễn Xuân K1; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
Bà Nguyễn Thị H1; địa chỉ: B, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 9 giờ ngày 26/3/2024, Trương Văn Đ đến nhà ông Nông Xuân H cùng thôn, khi đi qua nhà bà Long Thị L thấy không có ai ở nhà, cửa nhà khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đợi đi qua hông nhà rồi mở cửa đi vào phòng bếp. Giữa phòng bếp với phòng khách có cửa gỗ được khóa chốt nên Đ dùng tay giật tấm ván bung ra đồng thời chốt cửa bật ra. Đợi đi vào và thấy trong phòng khách có 05 bao tiêu khô nên đã trộm cắp 01 bao tiêu khô đựng trong bao màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen đem ra hông nhà rồi tiếp tục quay lại lấy thêm 01 bao tiêu khô có đặc điểm tương tự như bao Đợi vừa trộm cắp và đem ra hông nhà rồi quay lại đóng cửa trong nhà và cửa hông như cũ rồi đến nhà ông Nông Xuân H mượn xe thì ông H đồng ý cho mượn xe mô tô kiểu dáng Dream không có biển kiểm soát. Sau đó Đ điều khiển xe đến vị trí để hai bao tiêu vừa trộm cắp được rồi bỏ 01 bao ở gác ba ga xe, 01 bao tiêu còn lại thì để ở yên xe phía sau rồi chở tiêu đi bán. Khi đi đến đoạn đường dốc chùa thuộc thôn A, xã Đ thì xe hết xăng nên Đ dắt xe đến nhà anh Nguyễn Văn K2 tại thôn A, xã Đ để xin xăng nhưng không có nên Đ nhờ anh K2 chở đi bán tiêu thì anh K2 đồng ý. Anh K2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48D1 – 045.26 chở Đ cùng hai bao tiêu đến Đ2 của bà Nguyễn Thị H1. Khi tới nơi anh K2 đứng ở ngoài còn Đợi mang 02 bao tiêu vào cân được 74,1kg bán được với số tiền 7.171.000 đồng (Bảy triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Sau đó Đ nhờ anh K2 chở ra ngã ba cây xăng Tuấn A thuộc xã N để đón xe đi Bình Dương lẩn trốn, số tiền bán tiêu Đợi tiêu xài cá nhân.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20a/KL – HĐĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 33,9 kg có giá trị 3.367.000 đồng; 01 bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 40,2 kg có giá trị 3.993.000 đồng có giá trị. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm xâm hại ngày 26/3/2024 có giá trị là 7.360.000 đồng.
Cáo trạng số 56/CTr-VKS, ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Trương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả: 01 bao tiêu khô đựng trong bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 33,9 kg; 01 bao tiêu khô đựng trong bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 40,2 kg cho bà Long Thị L là chủ sở hữu hợp pháp; 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48D1 – 045.26 nhãn hiệu YAMAHA cho anh Nguyễn Văn K2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB có lưu đoạn video dài 05 phút 07 giây ghi lại sự việc xảy ra ngày 26/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Long Thị L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.171.000 đồng. Áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà H1 toàn bộ số tiền trên.
Đối với ông Nông Xuân H là người cho Trương Văn Đ mượn xe mô tô kiểu dáng Dream không có biển kiểm soát vào ngày 26/3/2024 nhưng ông H không biết Đ sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý đối với ông H.
Đối với anh Nguyễn Văn K2 là người chở Trương Văn Đ và hai bao tiêu khô đến Đ2 để Đ bán nhưng anh K2 không biết tài sản đó do Đ trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với anh K2.
Đối với bà Nguyễn Thị H1 là người mua hai bao tiêu khô của Trương Văn Đ vào ngày 26/3/2024 nhưng bà H1 không biết tài sản đó do Đ trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với bà H1.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 9 giờ ngày 26/3/2024, tại nhà bà Long Thị L thuộc thôn A, xã Đ, huyện C, Trương Văn Đ có hành vi trộm cắp của bà L 02 bao tiêu hạt khô, có khối lượng là 74,1 kg có trị giá là 7.360.000 đồng.
Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, đã đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”.
[3]. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương, gây tổn thất về vật chất cho bị hại. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 27/12/2023 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Long Thị L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.171.000 đồng. Áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà H1 toàn bộ số tiền trên
[7]. Đối với ông Nông Xuân H là người cho Trương Văn Đ mượn xe mô tô kiểu dáng Dream không có biển kiểm soát vào ngày 26/3/2024 nhưng ông H không biết Đ sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý đối với ông H.
[8]. Đối với anh Nguyễn Văn K2 là người chở Trương Văn Đ và hai bao tiêu khô đến Đ2 để Đ bán nhưng anh K2 không biết tài sản đó do Đ trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với anh K2.
[9]. Đối với bà Nguyễn Thị H1 là người mua hai bao tiêu khô của Trương Văn Đ vào ngày 26/3/2024 nhưng bà H1 không biết tài sản đó do Đ trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với bà H1.
[10]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả: 01 bao tiêu khô đựng trong bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 33,9 kg; 01 bao tiêu khô đựng trong bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 40,2 kg cho bà Long Thị L là chủ sở hữu hợp pháp; 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48D1 – 045.26 nhãn hiệu YAMAHA cho anh Nguyễn Văn K2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB có lưu đoạn video dài 05 phút 07 giây ghi lại sự việc xảy ra ngày 26/3/2024.
[11]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Trương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 359.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/9/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Long Thị L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.171.000 đồng. Áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà H1 toàn bộ số tiền trên.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả: 01 bao tiêu khô đựng trong bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 33,9 kg; 01 bao tiêu khô đựng trong bao tải màu xanh trắng, trên vỏ bao có in dòng chữ “Phân bón hỗn hợp NPK Mầm Xanh”, được cột bằng dây nhựa màu đen bên trong có chứa hạt tiêu khô có trọng lượng 40,2 kg cho bà Long Thị L là chủ sở hữu hợp pháp; 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48D1 – 045.26 nhãn hiệu YAMAHA cho anh Nguyễn Văn K2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB có lưu đoạn video dài 05 phút 07 giây ghi lại sự việc xảy ra ngày 26/3/2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Trương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 359.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tím |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
