TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN- TP. HÀ NỘI
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/DS - ST
Ngày: 31/10/2024.
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vĩ.
- Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn – TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2024/QÐST – DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 11 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.
Địa chỉ: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty cổ phần Mars. (theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB- MARS và Phụ lục hợp đồng 01 ký hiệu 455/HĐ01 ngày 29/12/2023 giữa VP Bank và công ty cổ phần Mars)
Địa chỉ: Tầng 12, tòa nhà Việt Á, số 9 Duy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Duy Thịnh – Trưởng phòng xử lý nợ miền Bắc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Anh Bùi Đức Thắng – Chuyên viên xử lý nợ;
- Anh Nguyễn Đăng Lực – Chuyên viên xử lý nợ.
Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Nghiêm, sinh năm 1964;
1
- Ông Lê Văn Trận, sinh năm 1960;
Cùng cư trú tại: Thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn Trọng, sinh năm 1986;
- Chị Nguyễn Thị Thanh Dung, sinh năm 1986;
- Cháu Lê Khánh Băng, sinh ngày 04/8/2012;
- Cháu Lê Quang Anh, sinh ngày 19/9/2016.
Cùng cư trú: Thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Băng, cháu Quang Anh là: Anh Lê Văn Trọng và chị Nguyễn Thị Thanh Dung.
(Có mặt anh Thắng; Vắng mặt bà Nghiêm, ông Trận, anh Trọng, chị Dung, anh Lực, cháu Băng, cháu Quang Anh)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Công ty cổ phần Mars do ông Bùi Đức Thắng là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 29/6/2022, bà Nguyễn Thị Nghiêm và ông Lê Văn Trận ký với Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) 03 hợp đồng, gồm:
1. Hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng số LN2206015894486 và 01 phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206015894486, theo đó Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cho bà Nghiêm, ông Trận vay số tiền 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng); thời hạn vay 24 tháng; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh chăn nuôi gia súc, gia cầm; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 8%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trọng hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân (“Thời gian cố định”). Hết thời gian cố định, lãi suất vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng/1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.vpbank.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn;
2
2. Hợp đồng cho vay số: LN2206105967347 và 01 phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206105967347, theo đó Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cho bà Nghiêm, ông Trận vay số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 120 tháng. Mục đích sử dụng vốn: HH- vay SXKD: vay bổ sung vốn/ mở rộng/ phát triển kinh doanh chăn nuôi gia cầm, gia súc; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Về lãi suất cho vay trọng hạn, điều chỉnh lãi suất trong hạn, mức lãi suất điều chỉnh, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả, thời điểm áp dụng được các bên thỏa thuận tương tự như Hợp đồng tín dụng số LN2206015894486 ngày 29/6/2022;
3. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo đó, Ngân hàng cho ông Nghiêm, bà Trận vay số tiền 299,000,000₫ (Hai trăm chín mươi chín triệu đồng); Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày; Lãi suất: theo quy định của ngân hàng.
Tổng số tiền Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng đã giải ngân cho ông Trận, bà Nghiêm đối với 03 khoản vay trên là: 3.299.000.000₫ (Ba tỷ hai trăm chín mươi chín triệu đồng.
4. Ngày 25/5/2022, bà Nguyễn Thị Nghiêm và ông Lê Văn Trận ký với Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo đó Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng số thẻ: 219-P-6487263, mục đích cấp tín dụng để phục vụ nhu cầu đời sống. Ông bà đã sử dụng số tiền trong thẻ tín dụng là 91.471.472 đồng.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm đã ký với Ngân hàng VPBank Hợp hợp đồng thế chấp số công chứng: 2986/2022; quyển số: 02-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 28/06/2022 để thế chấp tài sản là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; 34 tờ bản đồ số Xuân Đồng, tại địa chỉ; Thôn Xuân Đồng, Xã Tân Minh, Huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 646309, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00047 do UBND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cấp ngày 14/09/2005 cho ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm.
Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng ngày 28/6/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Khôi, địa chỉ: Số 106, phố Dịch Vọng Hậu, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/6/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội - Chi nhánh huyện Sóc Sơn.
Kể từ ngày được Ngân hàng VPBank giải ngân đến nay, ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại VPBank từ ngày 06/07/2022. Ngày 29/12/2023, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã tiến hành bán khoản nợ của ông Trận, bà Nghiêm sang cho Công ty Mars theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Phụ lục 01 số 455/HDD01 ký giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và Công ty Mars. Theo đó, VPBank
3
đồng ý bán và Công ty Mars đồng ý mua các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm đã ký kết với Ngân hàng VPBank.
Tạm tính đến ngày 31/10/2024, dư nợ của các khoản vay nêu trên và nợ thẻ tín dụng gồm: Nợ gốc là 3,271,291,847đ; lãi trong hạn là 99.185.766đ; lãi quá hạn là 1.097.277.695đ; lãi chậm trả là 120.201.913đ. Tổng cộng số tiền là 4.587.957.221₫ (Bốn tỷ năm trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn hai trăm hai mươi mốt đồng).
Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Mars tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/10/2024 là: 4.587.957.221 đồng.
- Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty Cổ phần Mars.
- Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm không trả nợ đầy đủ cho Công ty Mars thì Công ty Mars có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty Mars, cụ thể như sau: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; 34 tờ bản đồ số Xuân Đồng, tại địa chỉ; Thôn Xuân Đồng, Xã Tân Minh, Huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 646309, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00047 do UBND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cấp ngày 14/09/2005. Chi tiết hợp đồng thế chấp số công chứng: 2986/2022; quyển số: 02-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 28/06/2022 tại văn phòng công chứng Nguyễn Khôi.
- Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty Mars có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Mars cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.
- Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải chịu án phí và các chi phí tố tụng liên quan (nếu có).
- Về án phí: Yêu cầu ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Nghiêm và ông Lê Văn Trận thống nhất trình bày:
Ông Trận, bà Nghiêm là người ký tên vào hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như nguyên đơn Công ty Cổ phần Mars trình bày, tuy nhiên toàn bộ số tiền vay là do con dâu là chị Nguyễn Thanh Dung nhận và sử dụng, chị Dung sử dụng vào việc gì thì ông, bà không biết. Nay chị Dung vỡ nợ không có khả năng trả nên ông Nghiêm, bà Trận đề nghị nguyên đơn miễn giảm cho gia đình một phần tiền gốc và toàn bộ lãi để gia đình có khả năng trả do hiện nay hoàn cảnh của gia đình rất khó khăn.
4
Nếu nguyên đơn đồng ý, ông Trận và bà Nghiêm mong muốn được trả tổng số tiền là: 2.500.000.000 đồng tiền gốc và cho gia đình được giải chấp lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn Trọng, chị Nguyễn Thị Thanh Dung trình bày:
Thống nhất với lời trình bày và quan điểm giải quyết của bị đơn ông Lê Văn Trận, bà Nguyễn Thị Nghiêm.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Thư ký Tòa án; Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về hướng giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ Nghị quyết số 01/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 quy định về lãi trong Hợp đồng vay tài sản.
Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ – CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Mars:
- Buộc Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Mars tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/10/2024 là: Nợ gốc là 3,271,291,847đ; lãi trong hạn là 99.185.766đ; lãi quá hạn là 1.097.277.695₫; lãi chậm trả là 120.201.913đ. Tổng cộng là 4.587.957.221₫.
- Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty Cổ phần Mars.
- Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà Ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm không trả nợ đầy đủ cho Công ty Mars thì Công ty Mars có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty Mars, cụ thể như sau: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; 34 tờ bản đồ số Xuân Đồng, tại địa chỉ; Thôn Xuân Đồng, Xã Tân Minh, Huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội theo “ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 646309, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00047 do UBND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cấp ngày 14/09/2005. Chi tiết hợp đồng thế chấp số công chứng: 2986/2022; quyển số: 02-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 28/06/2022 tại văn phòng công chứng Nguyễn Khôi.
5
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật, tuy nhiên ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Đề nghị trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn nhận định:/
[1] Về thủ tục tố tụng: Công ty cổ phần Mars yêu cầu ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải trả ngân hàng số tiền còn nợ, ông Trận và bà Nghiêm đều cư trú tại thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa vào ngày 12/9/2024, trước khi mở phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Nghiêm và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Trọng có đơn xin hoãn phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn CTCP Mars là ông Nguyễn Đăng Lực nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Đức Thắng; Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đây là phiên tòa mở lần thứ 3, các thủ tục tống đạt, niêm yết đã đầy đủ theo quy định pháp luật nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án huyện Sóc Sơn mở phiên tòa xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
- Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Nghiêm và ông Lê Văn Trận vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, không trả gốc và lãi đúng hạn theo như Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên ngày 11/8/2023 Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã làm đơn khởi kiện bà Nghiêm, ông Trận đến Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn. Căn cứ khoản 1 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu. Hợp đồng tín dụng số LN2206105967347 ký ngày 29/06/2022, phụ lục 01 sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206105967347, Hợp đồng tín dụng số LN2206015894486 ký ngày 29/06/2022 và 01 phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206015894486; giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 31/05/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25/5/2022 đáp ứng đủ điều kiện của chủ thể ký hợp đồng và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên là hợp đồng tín dụng hợp pháp. Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp dân sự về Hợp đồng tín dụng.
Ngày 29/12/2023, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã tiến hành bán khoản nợ của ông Trận, bà Nghiêm sang cho Công ty Mars theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Phụ lục 01 số 455/HDD01 ký giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và Công ty Mars. Căn cứ quy định pháp luật tại Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự về kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, xác định Công ty cổ phần Mars là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Ngân
6
hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) trong vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
* Về số tiền gốc và lãi:
- Đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2206015894486 ký ngày 29/06/2022, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ và Khế ước nhận nợ ngày 29/6/2022:
Căn cứ vào hồ sơ vay của ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm nên Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã cho ông bà vay số tiền 1.900.000.000đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 06/7/2022. Mục đích vay để vay bổ sung vốn kinh doanh chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Tính đến ngày 31/10/2024, ông Trận và bà Nghiêm đã trả tổng số tiền lãi là 107.380.284₫, còn nợ Công ty cổ phần MARS số tiền là: 2.625.223.518 đồng. Trong đó, nợ gốc là 1.900.000.000đ; lãi trong hạn là 65.241.798đ; lãi quá hạn là 584.546.137₫; lãi chậm trả là 75.435.583₫.
+ Đối với số tiền gốc là 1.900.000.000 đồng ông Nghiêm và bà Trận còn nợ Công ty cổ phần MARS đến nay vẫn chưa trả. Quá trình điều tra và trong quá trình giải quyết vụ án ông Trận và bà Nghiêm đều xác định ông bà còn nợ Công ty số tiền trên. Căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thấy cần chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần MARS buộc ông Trận và bà Nghiêm có trách nhiệm trả Công ty Mars số tiền gốc trên.
+ Đối với yêu cầu về lãi: Tại khoản 9 Điều 1 của Hợp đồng, phụ lục hợp đồng và tại khoản 5 Điều 1 của Khế ước nhận nợ có quy định về lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả, phí theo đó Lãi suất trong hạn là 08%/năm. Lãi suất cho vay trọng hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng/1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.vpbank.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.
Xét việc thỏa thuận về tính lãi trong hạn và lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả của các bên trong hợp đồng tín dụng tại khoản 9 Điều 1 của Hợp đồng, phụ lục hợp đồng và tại khoản 5 Điều 1 của Khế ước nhận nợ là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần chấp nhận toàn bộ số tiền lãi như Công ty CP MARS đã giải trình
7
là 725.223.518 đồng, trong đó lãi trong hạn là 65.241.798đ; lãi quá hạn là 584.546.137đ; lãi chậm trả là 75.435.583₫.
Như vậy số tiền gốc và lãi ông Trận và bà Nghiêm phải trả cho Công ty CP MARS đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2206015894486 ký ngày 29/06/2022, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ và Khế ước nhận nợ ngày 29/6/2022 là 2.625.223.518 đồng. Trong đó, nợ gốc là 1.900.000.000đ; lãi trong hạn là 65.241.798₫; lãi quá hạn là 584.546.137₫; lãi chậm trả là 75.435.583₫.
- Đối với Hợp đồng cho vay số LN2206105967347 ký ngày 29/06/2022, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ:
Căn cứ vào hồ sơ vay của ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm nên Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã cho ông bà vay số tiền 1.100.000.000₫ (Một tỷ một trăm triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 11/7/2022. Mục đích vay bổ sung vốn/ mở rộng/ phát triển kinh doanh chăn nuôi gia cầm, gia súc.
Tính đến ngày 31/10/2024, ông Trận và bà Nghiêm đã trả một phần gốc và lãi với số tiền là 106.127.345 đồng, còn nợ Công ty cổ phần MARS số tiền là: 1.396.385.195 đông. Trong đó, nơ gốc là 1.044.998.000đ; lãi trong hạn là 23.964.323₫; lãi quá hạn là 298.464.186đ; lãi chậm trả là 28.958.686₫.
+ Đối với số tiền gốc là 1.100.000.000 đồng, ông Nghiêm và bà Trận đã trả một phần tiền gốc là 55.022.000đ; ông Nghiêm, bà Trận còn nợ Công ty cổ phần MARS số tiền gốc là 1.044.998.000₫ đến nay vẫn chưa trả. Quá trình điều tra và trong quá trình giải quyết vụ án ông Trận và bà Nghiêm đều xác định ông bà còn nợ Công ty số tiền trên. Căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thấy cần chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần MARS buộc ông Trận và bà Nghiêm có trách nhiệm trả Công ty số tiền trên.
+ Đối với yêu cầu về lãi: Tại khoản 7 Điều 1 của Hợp đồng, phụ lục hợp đông có quy định về lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả, phí theo đó Lãi suất trong hạn là 09%/năm. Lãi suất cho vay trọng hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng/1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.vpbank.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.
8
Xét việc thỏa thuận về tính lãi trong hạn và lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả của các bên trong hợp đồng tín dụng tại khoản 7 Điều 1 của Hợp đồng, phụ lục hợp đông là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần chấp nhận toàn bộ số tiền lãi như Công ty CP MARS đã giải trình là 351.387.195 đông, trong đó lãi trong hạn 23.964.323đ; lãi quá hạn là 298.464.186đ; lãi chậm trả là 28.958.686₫.
Như vậy số tiền gốc và lãi ông Trận và bà Nghiêm phải trả cho Công ty CP MARS đối với Hợp đồng cho vay hạn mực số LN2206105967347 ký ngày 29/06/2022, phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ là 1.396.385.195 đông. Trong đó, nơ gốc là 1.044.998.000đ; lãi trong hạn 23.964.323đ; lãi quá hạn là 298.464.186đ; lãi chậm trả là 28.958.686₫.
- Đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD2220200366 ngày 29/6/2022:
Căn cứ vào hồ sơ vay của bà Nguyễn Thị Nghiêm nên Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng đã cho bà Nghiêm vay số tiền 299.000.000₫ (Hai trăm chín mươi chín triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 21/7/2022. Mục đích vay để phục vụ nhu cầu đời sống.
Tính đến ngày 31/10/2024, bà Nghiêm đã trả một phần gốc và lãi với số tiền là 94,927,808 đồng, còn nợ Công ty cổ phần MARS số tiền là: 402.814.064 đông. Trong đó, nơ gốc là 234,822,375₫; lãi trong hạn là 9.979.645đ; lãi quá hạn là 143.299.945₫; lãi chậm trả là 14.712.099₫.
+ Đối với số tiền gốc là 299.000.000 đồng, bà Nghiêm đã trả một phần tiền gốc, lãi là 94,927,808đ; bà Nghiêm còn nợ Công ty cổ phần MARS số tiền gốc là 234,822,375đ đến nay vẫn chưa trả. Quá trình điều tra và trong quá trình giải quyết vụ án bà Nghiêm xác định bà còn nợ Công ty số tiền trên. Căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thấy cần chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần MARS buộc bà Nghiêm có trách nhiệm trả Công ty số tiền trên.
+ Đối với yêu cầu về lãi: Lãi suất cho vay trong hạn là 23%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất và được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/01 lần. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Lãi suất cho vay điều chỉnh được xác định bằng Mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với 24 tháng cộng với biên độ điều chỉnh mức lãi suất theo Biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có Tài sản đảm bảo được niêm yết tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng.
Xét việc thỏa thuận về tính lãi trong hạn và lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả của các bên trong hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần chấp nhận toàn bộ số tiền lãi như Công ty CP MARS đã giải trình là 167.991.689 đông, trong đó lãi trong hạn là 9.979.645đ; lãi quá hạn là 143.299.945₫; lãi chậm trả là 14.712.099₫.
Như vậy số tiền gốc và lãi bà Nghiêm phải trả cho Công ty CP MARS đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 29/6/2022 là 402.814.064 đồng. Trong đó,
9
nợ gốc là 234,822,375đ; lãi trong hạn là 9.979.645đ; lãi quá hạn là 143.299.945đ; lãi chậm trả là 14.712.099₫.
- Đối với thẻ tín dụng số thẻ 219-P-6487263:
Ngày 25/5/2022, ông Trận, bà Nghiêm có ký Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử. Ngân hàng đã giải ngân ngày 27/8/2022, tính đến ngày 31/10/2024, bà Nghiêm, ông Trận không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, do đó tổng dư nợ thẻ tín dụng là: 163.534.444 đồng, trong đó dư nợ gốc là 91.471.472 đ; lãi quá hạn là 70.967.427đ; lãi chậm trả là 1.095.545₫.
Như vậy số tiền gốc và lãi ông Trận, bà Nghiêm phải trả cho Công ty CP MARS đối với Thẻ tín dụng số thẻ 219-P-6487263 là 163.534.444 đồng, trong đó dư nợ gốc là 91.471.472 đ; lãi quá hạn là 70.967.427đ; lãi chậm trả là 1.095.545₫.
Về yêu cầu đề nghị ông Trận, bà Nghiêm phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc chưa trả kể từ ngày 31/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2206105967347 ký ngày 29/06/2022, phụ lục 01 sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206105967347, Hợp đồng tín dụng số LN2206015894486 ký ngày 29/06/2022 và 01 phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206015894486; giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25/05/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 29/6/2022 cho đến khi ông bà thanh toán hết khoản nợ: Theo quy định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ – NHNN ngày 03/02/2005, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần MARS buộc ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc chưa trả kể từ ngày 31/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng, khế ước nhận nợ, văn bản tín dụng kể trên cho đến khi ông Trận, bà Nghiêm tất toán hết khoản nợ.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Công ty cổ phần MARS thấy: Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 2986/2022 ngày 28/6/2022 quy định tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ vay là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số Xuân Đồng, tại địa chỉ: thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, Huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 646309, diện tích còn lại 735m² đất ở, 122,1m² đất vòn và 55,9m² đất đờng đi chung; Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00047 do UBND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cấp ngày 14/09/2005 cho ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm. Ngày 08/8/2024, TAND huyện Sóc Sơn đã tiến hành xem
10
xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Công ty cổ phần đo đạc Hùng Phát lập thì thửa đất nói trên có tổng diện tích 665m² đất ở và đất vòn
Việc thế chấp nêu trên được công chứng ngày 28/6/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Khôi, địa chỉ: Số 106, phố Dịch Vọng Hậu, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/6/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội - Chi nhánh huyện Sóc Sơn là phù hợp với quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ - CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ – CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Như vậy Hợp đồng thế chấp trên là hợp pháp nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần MARS về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng số LN2206105967347 ký ngày 29/06/2022, phụ lục 01 sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206105967347; Hợp đồng tín dụng số LN2206015894486 ký ngày 29/06/2022 và 01 phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206015894486; Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn ngày 25/05/2022; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/05/2022 (giải ngân ngày 27/8/2022); Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25/05/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 29/6/2022 (giải ngân ngày 21/7/2022) nếu ông Trận, bà Nghiêm không trả nợ hoặc trả không đủ nợ.
[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 112.587.957 đồng, bị đơn phải chịu tuy nhiên ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 26; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điểm b, Khoản 1 Điều 39; Điều 74; Điều 147; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Khoản 3 Điều 90, Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ – NHNN ngày 03/02/2005.
11
Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ – CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần MARS với ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm.
- Buộc ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải trả cho Công ty cổ phần MARS số tiền 4.587.957.221 đồng (Bốn tỷ năm trăm tám mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn hai trăm hai mươi mốt đồng) tạm tính đến ngày 31/10/2024 theo Hợp đồng tín dụng số LN2206105967347 ký ngày 29/06/2022, phụ lục 01 sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206105967347; Hợp đồng tín dụng số LN2206015894486 ký ngày 29/06/2022 và 01 phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng LN2206015894486; Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn ngày 25/05/2022; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/05/2022 (giải ngân ngày 27/8/2022); Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25/05/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 29/6/2022 (giải ngân ngày 21/7/2022) bao gồm: Tổng dư nợ gốc là 3,271,291,847 đồng, nợ lãi trong hạn là 99.185.766 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.097.277.695 đồng; lãi chậm trả là 120.201.913 đồng. Trong đó bà Nguyễn Thị Nghiêm phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn ngày 25/05/2022; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/05/2022 (giải ngân ngày 27/8/2022), cụ thể: Nợ gốc là 234,822,375đ; lãi trong hạn là 9.979.645đ; lãi quá hạn là 143.299.945đ; lãi chậm trả là 14.712.099₫.
Buộc ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo các hợp đồng, giấy nhận nợ, văn bản tín dụng nêu trên kể từ ngày 01/11/2024 cho đến khi trả hết nợ.
- Trong trường hợp ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm không trả nợ hoặc trả không đủ số nợ trên thì Công ty cổ phần MARS có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số Xuân Đồng, tại địa chỉ: thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, Huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 646309, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00047 do UBND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cấp ngày 14/09/2005 cho ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm và theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 2986/2022, quyển số 02 - 2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 28/6/2022 giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng và ông Lê Văn Trận, bà Nguyễn Thị Nghiêm.
12
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 112.587.957 đồng cho ông Lê Văn Trận và bà Nguyễn Thị Nghiêm.
Công ty cổ phần MARS được hoàn lại số tiền 51.741.000đ (Năm mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2020/0006495 ngày 19 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Số tiền trên sẽ do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn chi trả.
- Án xử công khai sơ thẩm, Công ty cổ phần MARS có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Hải |
13
Bản án số 52/2024/DS - ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng tín dụng
