Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 -2024

V/v "Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải

Bà Hà Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên– Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991

Nơi thường trú trước khi đi nước ngoài: Xóm X, xã Đ, huyện P (nay là thành phố T), tỉnh Thái Nguyên.

Địa chỉ hiện nay: Số B, đường H, quận D, thành phố C, Đài Loan. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1982.

Nơi thường trú: Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn ngày 26/5/2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Đ, huyện P (nay là thành phố T), tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Sau đó, vợ chồng này sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân được một thời gian. Đến năm 2019 vì điều kiện gia đình khó khăn, chị H đi Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động để xây dựng kinh tế. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân là do vợ chồng đã sống ly thân từ trước, hiện cả hai đều đi làm ăn xa, mỗi người một nơi khiến vợ chồng không còn tiếng nói chung, tình cảm trở nên xa cách. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, gia đình hai bên động viên nhưng không có kết quả. Nay chị H xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Văn N, sinh ngày 05/11/2008. Hiện nay cháu N đang ở cùng với anh K và ông bà nội là ông Nguyễn Văn C và bà Đinh Thị B tại xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn chị H đề nghị giao con chung cho anh K trực tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc cháu N muốn ở với ai, chị sẽ tôn trọng quyết định của cháu. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc giữa Tòa án và bà Đinh Thị B dưới sự chứng kiến của Trưởng xóm X, bà B cho biết: Bà Đinh Thị B là mẹ đẻ của anh K, có cùng nơi thường trú với anh K ở xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Anh K hiện nay đi làm xa nhà, cách vài ngày anh K về nhà tại xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, anh K không cắt khẩu đi nơi khác. Bà B đã nhận thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án để giao cho anh K. Anh K đã biết Toà án thụ lý giải quyết đơn xin ly hôn của chị H đối với anh nhưng anh K không đến Tòa án và có ý kiến cho rằng chị H bỏ rồi thì không lên để làm gì. Về con chung của anh K và chị H là cháu Nguyễn Văn N, sinh năm 2008, bà B đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N khi anh K không có nhà.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Điều 68, 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 05/11/2008 cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác (Trong thời gian anh K không có nhà, bà Đinh Thị B sẽ trực tiếp chăm sóc cháu N). Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi đi nước ngoài ở Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ hiện nay ở: Số B, đường H, quận D, thành phố C, Đài Loan. Anh Nguyễn Văn K là bị đơn có nơi thường trú tại: Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H trở về Việt Nam và đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để giải quyết. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản của chị Nguyễn Thị H nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của chị H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn K trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Đ, huyện P (nay là thành phố T), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, chị H xác định là do vợ chồng đã sống ly thân từ trước, hiện cả hai đều đi làm ăn xa, mỗi người một nơi khiến vợ chồng không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm tình cảm vợ chồng không còn. Anh K đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án để làm việc. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh K là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn K có 01 con chung là Nguyễn Văn N, sinh ngày 05/11/2008. Khi ly hôn chị đề nghị giao con chung cho do anh K trực tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc cháu N muốn ở với ai, chị sẽ tôn trọng quyết định của cháu. Cháu N có ý kiến xin được ở với anh K và ông bà nội, tuy nhiên hiện nay anh K đi làm xa không có nhà, cháu N xin được ở với bà Đinh Thị B, bà B nhất trí nuôi cháu N trong khi anh K vắng nhà. Do đó cần giao cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 05/11/2008 cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Trong thời gian anh K đi làm xa nhà, bà Đinh Thị B trực tiếp chăm sóc cháu N là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu câu.

Về tài sản chung, nợ chung: Xác định không có. Hội đồng xét xử không giải quyết.

Án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm

[4] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51;56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Văn K.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 05/11/2008 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Trong thời gian anh K đi làm xa nhà, bà Đinh Thị B trực tiếp chăm sóc cháu N. Các bên có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Xác định không có. Hội đồng xét xử không giải quyết.
  2. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000189 ngày 06/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị Nguyễn Thị H quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh;

- Cục THADS tỉnh;

- UBND xã Đ, tp T, tỉnh Thái Nguyên;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn thị h và nguyễn văn k
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger