|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/DS-ST
Ngày: 28-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hòa
- Bà Lê Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 159/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng N
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N– Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi; theo giấy ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N;
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Võ Hữu T1 – Trưởng phòng khách hàng- Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi, theo giấy ủy quyền số 300/UQ-NHNo.ĐP ngày 14/8/2023;
Bị đơn:
- Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1960
- Ông Thiều Quang T2, sinh năm1954
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố V, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện của nguyên đơn có mặt; bị đơn bà Huỳnh Thị L có mặt; bị đơn ông Thiều Quang T2 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/5/2024, tại bản tự khai và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N là ông Võ Hữu T1 trình bày:
Ngân hàng N với ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L đã ký 2 hợp đồng vay vốn:
Hợp đồng tín dụng 4508-LAV-202100359 ngày 02/02/2021, ngân hàng cho vợ chồng ông Thiều Quang T2, bà Huỳnh Thị L vay với số tiền 100.000.000đồng, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất vay 10,5%/năm, mục đích vay để mua bò giống.
Hợp đồng tín dụng 4508-LAV-202100360 ngày 02/02/2021, ngân hàng cho vợ chồng ông Thiều Quang T2, bà Huỳnh Thị L vay với số tiền 100.000.000đồng, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất vay 10,5%/năm, mục đích vay để mua bò giống.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông T2 và bà L chỉ trả cho ngân hàng mỗi khoản vay số tiền gốc là 5.000.000 đồng, tiền lãi là 15.013.778 đồng. Nay ông T2 và bà L còn nợ ngân hàng mỗi khoản vay là 121.867.222 đồng, trong đó nợ gốc là 95.000.000đồng; nợ lãi tính đến ngày 24/9/2024 là 26.867.222 đồng.
Do bà L, ông T2 vi phạm thoả thuận trong hợp đồng, không trả gốc, lãi từ tháng 9/2022 nên ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền gốc và lãi tạm tính đến 24/9/2024 là: 243.734.444 đồng, trong đó số tiền gốc là 190.000.000 đồng, tiền lãi là 53.734.444 đồng.
Kể từ ngày 25/9/2024 ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L Tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất đã thoả thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã nêu trên cho đến khi bà Huỳnh Thị L và ông T3 Quang Thức thanh toán xong khoản nợ.
Về cơ chế bảo đảm tiền vay theo Nghị định 55/2015/CP: ngân hàng có giữ của vợ chồng bà L hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Q đã cấp cho bà L, ông T2 tại hai thửa đất số 1565 và thửa1566 tờ bản đồ số 13 phường P.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Huỳnh Thị L trình bày:
Bà và ông Thiều Quang T2 có vay Ngân hàng N 200.000.000 đồng theo hai hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202100359 ngày 02/02/2021 và 4508-LAV-202100360 ngày 02/02/2021. Hiện tại còn nợ ngân hàng 243.734.444 đồng, vợ chồng bà đồng ý trả nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên bà đề nghị ngân hàng cho vợ chồng bà thêm 2-3 tháng trả nợ. Khi vay vợ chồng bà có giao nộp cho ngân hàng hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Q đã cấp cho bà L, ông T2 tại thửa đất số 1565 và thửa đất số 1566 tờ bản đồ số 13 phường P.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Thiều Quang T2 đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng N có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Thiều Quang T2, bà Huỳnh Thị L ở tổ dân phố V, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Thiều Quang T2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T2.
[3] Về nội dung:
Theo hai hợp đồng mà Ngân hàng N với ông T3 Quang Thức và bà Huỳnh Thị L đã ký kết, hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202100359 ngày 02/02/2021, số tiền vay 100.000.000 đồng, hợp đồng số 4508-LAV-202100360 ngày 02/02/2021, số tiền vay 100.000.000 đồng, tổng cộng Ngân hàng N đã cho ông T3 Quang Thức, bà Huỳnh Thị L vay 200.000.000 đồng, mục đích ông T2, bà L vay để mua bò giống. Các hợp đồng vay trung hạn. Quá trình thực hiện các hợp đồng này, ông T2, bà L tính đến nay chỉ trả mỗi khoản vay số tiền gốc 5.000.000 đồng, tiền lãi là 15.013.778 đồng.
Hội đồng xét xử xử xét thấy, hợp đồng tín dụng giữa các bên đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật nhưng ông T2, bà L đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận mà hai bên đã cam kết, không trả gốc và lãi trong nhiều kỳ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông T2, bà L vẫn không thực hiện. Hiện tại tính đến ngày 24/9/2024 ông T2, bà L còn nợ ngân hàng 243.734.444 đồng, trong đó số tiền gốc là 190.000.000 đồng, tiền lãi là 53.734.444 đồng. Bị đơn bà Huỳnh Thị L thống nhất còn nợ Ngân hàng N số tiền trên nhưng đề nghị cho vợ chồng bà thêm thời gian để trả nợ, tuy nhiên đề nghị của bà không được ngân hàng chấp nhận.
Bị đơn ông Thiều Quang T2 là người cùng với bà L trực tiếp ký các hợp đồng tín dụng, đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện nhưng ông không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của ngân hàng.
Do bên vay vi phạm cam kết mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2, bà L phải trả 243.734.444 đồng và tiền lãi phát sinh là có căn cứ theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc ngân hàng giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L, ông T2 được thực hiện theo quy định của Nghị định số 55/2015/CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ.
[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 12 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L phải trả cho Ngân hàng N 243.734.444 đồng (hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó số tiền gốc là 190.000.000 đồng, tiền lãi tính đến 24/9/2024 là 53.734.444 đồng.
- Kể từ ngày 25/9/2024 ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ.
- Về án phí: Ông Thiều Quang T2 và bà Huỳnh Thị L thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng N 5.889.000 đồng (năm triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002623 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn Ngân hàng N, bị đơn bà Huỳnh Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông T3 Quang Thức được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của ngân hàng, buộc bà L, ông T phải trả nợ vay cho ngân hàng
