Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY TPHÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ – ST

Ngày 25 tháng 9 năm 2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy.

+ Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Huy Dương.

Bà Đào Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, về việc hôn nhân và gia đình, theo đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST- DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990; (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt)

Cùng ĐKHKTT: Thôn N, xã K, thị xã S, TP .;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tổ tụng tại Tòa án, anh Nguyễn Hoài N là nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị M có đăng ký kết hôn ngày 17/9/2010 tại Ủy ban nhân dân xã K, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại địa chỉ thôn N, xã K, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không hợp tính cách dẫn đến thường xuyên xô xát, cãi vã. Từ cuối năm 2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân. Nay anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.

+ Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Cao K, sinh ngày 29/5/2011 và cháu Nguyễn Yến T, sinh ngày 25/10/2012. Hiện hai cháu đang ở với ông bà nội. Sau khi ly hôn anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, nếu không được thì có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, giao chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Anh N và chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công sức chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Anh N xác định không có.

- Về án phí: Anh N tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày:

Chị có kết hôn với anh Nguyễn Hoài N ngày 17/9/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, thị xã S, TP .. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh N tại thôn N, xã K, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng hiểu lầm, nghi ngờ nhau không chung thủy. Hai bên gia đình đã can thiệp, hòa giải nhưng không được. Từ tháng 8/2023 đến nay anh chị sống ly thân. Nay anh N có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị M xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Về phương hướng khắc phục mâu thuẫn để về đoàn tụ chị M mong muốn gia đình cùng giàn xếp hòa giải để khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Cao K, sinh ngày 29/5/2011 và cháu Nguyễn Yến T, sinh ngày 25/10/2012. Hiện hai cháu đang ở với chị M. Nguyện vọng của chị M là được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công sức chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Không có.

Tòa án cũng tiến hành xác minh với chính quyền địa phương và gia đình anh N, chị M tại thôn N, xã K, thị xã S, TP .. Tại Biên bản xác minh ngày 06/9/2024, đại diện chính quyền địa phương và gia đình anh N cho biết: Anh Nguyễn Hoài N và chị Nguyễn Thị M có đăng ký kết hôn ngày 17/9/2010 tại UBND xã K, thị xã S, TP .. Sau khi kêt hôn, anh chị về chung sống với gia đình anh N tại xã K, thị xã S, chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hiểu lầm, anh N cho rằng chị M ngoại tình nhưng không có căn cứ. Gia đình anh N khẳng định chị M hoàn toàn đứng đắn, hoàn thành bổn phận dâu con. Việc ly hôn là việc riêng của anh chị nhưng gia đình có nguyện vọng mong muốn anh chị đoàn tụ. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Cao K, sinh ngày 29/5/2011 và cháu Nguyễn Yến T, sinh ngày 25/10/2012, hiện 02 cháu đnag ở với gia đình anh N.Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung của anh chị gia đình không được biết. Nay anh N có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị M, đại diện chính quyền địa phương và gia đình đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án cũng tiến hành lấy ý kiến của cháu Nguyễn Cao K và cháu Nguyễn Yến T, tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2024, cháu T và cháu K trình bày nguyện vọng mong muốn bố mẹ đoàn tụ, nếu bố mẹ phải ly hôn thì có nguyện vọng ở với mẹ.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do chị M không đến Tòa án làm việc nên anh N đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hoài N được ly hôn với chị Nguyễn Thị M. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Cao K, sinh ngày 29/5/2011 và Nguyễn Yến T, sinh ngày 25/10/2012. Giao cháu Nguyễn Yến T cho chị Nguyễn Thị M nuôi; Giao cháu Nguyễn Cao K cho anh Nguyễn Hoài N nuôi.Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N chị M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Anh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;

[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị M có nơi cư trú và đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã K, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoài N và chị Nguyễn Thị M kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh N và chị M là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống anh N và chị M có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, vợ chồng nghi ngờ nhau không chung thủy dẫn đến mâu thuẫn nặng nề căng thẳng, hai bên gia đình cũng đã cố gắng hòa giải, giải quyết mâu thuẫn nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay. Nay anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị M, chị M xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, có nguyện vọng được đoàn tụ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh N và chị M là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị M có nguyện vọng đoàn tụ nhưng không đến Tòa án để hòa giải, không nêu được phương án cụ thể khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Hoài N, xử cho anh N được ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

[3] Về con chung: Anh Nguyễn Hoài N và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là Nguyễn Cao K, sinh ngày 29/5/20 11 và cháu Nguyễn Yến T, sinh ngày 25/10/2012. Hiện hai cháu đang ở cùng với chị M và gia đình anh N tại thôn N, xã K, thị xã S. Anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung hoặc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Cao K, giao chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Yến T sau khi ly hôn. Chị M trình bày nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung sau khi ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh N và chị M đều chính đáng. Tuy nhiên hiện cháu K và cháu T đang sinh sống, học tập ổn định cùng với chị M, các cháu đều có nguyện vọng được ở với chị M sau khi bố mẹ ly hôn nên việc giao cả hai con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Do chị Nguyễn Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Hoài N cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Hoài N và cho đến khi có yêu cầu mới. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Hoài N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

[4] Về tài sản chung, công sức chung: Anh N và chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Nợ chung: Anh N và chị M cùng trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Anh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Hoài N, anh Nguyễn Hoài N được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
  2. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Cao K, sinh ngày 29/5/2011 và cháu Nguyễn Yến T, sinh ngày 25/10/2012. Giao cháu Nguyễn Cao K và cháu Nguyễn Yến T cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu K và cháu T đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Hoài N đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
  4. Anh Nguyễn Hoài N được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
  5. Về tài sản chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Nợ chung : Không có.
  7. Về án phí: Anh Nguyễn Hoài N phải chịu toàn bộ 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Nguyễn Hoài N đã nộp theo Biên lai số: 0000940 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP ..
  8. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Hoài N và chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - Viện KSND TX. Sơn Tây, TP. Hà Nội;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND xã Kim Sơn, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây;
  • - Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ – ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger