Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH TUYỂN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Bốn
2. Ông Tống Xuân Quyết

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS, ngày 26/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/HSST-QĐ ngày 29/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Đức L, sinh ngày 10/12/1987 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

    Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Mạnh T, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; có vợ: Trịnh Thị S, sinh năm 1990 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  2. Trần Văn T1, sinh ngày 18/5/1990; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn V, sinh năm 1967 và bà: Đỗ Thị H1, sinh năm 1967; có vợ: Trần Thị L1, sinh năm 1993 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2012/HSST ngày 29/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 10 tháng tù về tội Đánh bạc.
    • + Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2016/HSST ngày 05/8/2016 của Toà án nhân dân huyện H xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, phải bồi thường số tiền 213.647.000₫ và phải chịu 10.682.000đ tiền án phí DSST có giá ngạch. Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2017/HSPT ngày 13/4/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (sửa bản án sơ thẩm số 25/2016/HSST ngày 05/8/2016 của Toà án nhân dân huyện H) xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại.
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000253/QĐ-XPHC ngày 17/01/2020 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.200.000đ về hành vi đánh bạc. Ngày 20/01/2020 đã nộp xong tiền phạt.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  3. Nguyễn Trường X, sinh ngày 10/9/1987; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc D (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968; có vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  4. Đinh Văn L2, sinh ngày 03/9/1985; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn N, sinh năm 1963 và bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1965; có vợ: Phạm Thị N1, sinh năm 1985 và 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  5. Đỗ Văn N2, sinh ngày 09/11/1994; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Thôn B T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Đình Đ (đã chết) và bà: Trần Thị Q, sinh năm 1963; có vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 2003 và có 02 con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HS-ST ngày 05/7/2018 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/6/2019).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000643/QĐ-XPHC ngày 08/02/2021 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.200.000đ về hành vi đánh bạc (ngày 09/02/2021 đã nộp xong tiền phạt).
    • + Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 172/QĐ-UBND ngày 18/02/2021 của UBND xã Y, huyện H trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày 18/02/2021 (đã chấp hành xong ngày 18/5/2021).

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  6. Đinh Hồng T2, sinh ngày 18/02/1991; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Hồng Q1 (đã chết) và bà: Nịnh Thị L3, sinh năm 1956; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 194/QĐ-XPHC ngày 08/11/2012 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.000.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng (chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 09/5/2022 của Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  7. Đỗ Hồng P, sinh ngày 30/7/1985; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Hữu L4 (đã chết) và bà: Lê Thị N3, sinh năm 1949; có vợ: Ngọc Thị H4, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 233/QĐ-XPHC ngày 15/11/2013 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.000.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác. Ngày 27/01/2014 đã chấp hành nộp phạt.
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3021/QĐ-XPHC ngày 24/8/2016 của Công an tỉnh T xử phạt 9.000.000đ về hành vi đánh bạc, dùng nhà của mình để chứa bạc (chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 209/QĐ-XPHC ngày 14/10/2016 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 2.000.000đ về hành vi cố ý gây tổn hại sức khoẻ của người khác (chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 230/QĐ-XPHC ngày 17/11/2016 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 3.350.000đ về hành vi đánh nhau (chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 295/QĐ-XPHC ngày 08/11/2017 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 2.250.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác (chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 81/QĐ-XPHC ngày 18/4/2019 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 2.000.000đ về hành vi cố ý gây thương tích (chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 06/5/2022 của Công an thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  8. Trần Anh B, sinh ngày 26/7/1989; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

    Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đăng K, sinh năm 1958 và bà: Phạm Thị L5, sinh năm 1964; có vợ: Mai Thị S1, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    Ngày 31/01/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố về tội Đánh bạc quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/11/2023, Trần Anh B - sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H và Nguyễn Thị C - sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H thuê nhà nghỉ “Mai Hoa”, địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H để kinh doanh dịch vụ lưu trú và trực tiếp quản lý.

Khoảng 16 giờ ngày 27/02/2024, tại phòng 401 nhà nghỉ “Mai Hoa”, Trần Anh B cùng Nguyễn Trường X; Đỗ Văn N2 cùng nhau đánh bạc bằng hình thức “đánh liêng”, cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.000.000đ (Nguyện sử dụng 500.000đ; Bắc sử dụng 200.000đ; X sử dụng 300.000đ). Sau khi cá cược đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày những người có tên trên dừng việc đánh bạc và để bộ tú lơ khơ 52 quân trên bàn gỗ ở đầu giường trong phòng 401 nhà nghỉ “M”.

Đến tối ngày 27/02/2024, B nhắn tin, gọi điện thoại rủ X và N2 đến nhà nghỉ “Mai Hoa” để đánh bạc tiếp. X và N2 đồng ý.

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 27/02/2024, Trần Văn T1 đến nhà nghỉ "” chơi, uống nước. Sau đó, T1 gọi điện cho Trần Đức L mang xe ô tô của T1 đến nhà nghỉ “Mai Hoa” (trước đó T1 thuê L thay đèn led xe ô tô) rồi T1 sẽ trả tiền L. L đồng ý. Tiếp đó, T1 gọi điện thoại rủ Đinh Hồng T2 đến nhà nghỉ “Mai Hoa” chơi, T2 đồng ý. Khoảng 21 giờ 30 phút, L điều khiển xe ô tô của T1 đến nhà nghỉ “Mai Hoa” như đã hẹn trước đó. Sau khi nhận được xe từ L, T1 lái xe ô tô về nhà rồi bảo vợ là Trần Thị L1 chuyển số tiền 2.500.000đ cho L đê trả tiền thay đèn xe. Sau đó, T1 gọi điện thoại cho Đỗ Hồng P hỏi vay số tiền 3.000.000₫ nói để trả nợ cho L nhưng mục đích là để đánh bạc. P nói không có tiền trong tài khoản mà chỉ có tiền mặt nên T1 nhờ P cầm tiền đến nhà nghỉ “Mai H5” cho T1 vay. P đồng ý. Khi P đến thì gặp L, L hỏi P đổi lấy số tiền 2.000.000đ tiền mặt, L sẽ chuyển tiền trong tài khoản ngân hàng trả cho P, P đồng ý.

Khoảng 21 giờ 37 phút cùng ngày, X, N2, L, P có mặt tại bàn uống nước kê tại gian lễ tân nhà nghỉ “M”. B cũng ngồi tại ghế nói chuyện cùng những người có tên nêu trên. Biết những người này chuẩn bị đánh bạc (vì B trực tiếp nhắn tin rủ N2 và X đến đánh bạc) nên B nói “Anh em đông thì lên tầng 4, vào phòng nào thì vào” tức là bảo những người này lên tầng 4 nghỉ “Mai Hoa” đánh bạc. Ngay sau đó X, N2 lên trước rồi vào phòng 401, B, P, L đi theo sau. Vào trong phòng N2 thấy bộ bài tú lơ khơ sử dụng để đánh bạc buổi chiều ngày 27/02/2024 vẫn còn ở trên bàn, nên N2 cầm lấy để sử dụng làm dụng cụ đánh bạc. Khoảng 22 giờ cùng ngày, X, L, N2, P bắt đầu đánh bạc bằng hình thức “đánh liêng” với tỷ lệ “vào tẩy” 20.000đồng/ván. Bắc ngồi xem, không tham gia đánh bạc.

Sau khi X, L, N2, P đánh bạc xong ván bạc thứ nhất thì Đinh Hồng T2 đến tham gia đánh bạc. Sau khi T2 đến khoảng 10 phút, Trần Văn T1 đến nhà nghỉ rồi vào phòng 401 thì thấy những người nêu trên đang đánh bạc nên ngồi ở ngoài xem mọi người đánh bạc. Quá trình ngồi xem đánh bạc, T1 hỏi P vay số tiền 3.000.000₫ như trước đó đã nói, P đồng ý và đưa tiền cho T1.

Sau khi T1 đến được khoảng 10 phút, thì Đinh Văn L2 đến tham gia đánh bạc. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, L bị thua hết tiền nên hỏi T1 đổi cho 900.000₫ tiền mặt, L sẽ chuyển tiền vào tài khoản trả cho T1, T1 đồng ý và đưa tiền mặt cho L. Sau đó, T1 cũng tham gia đánh bạc cùng những người trên.

Hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Mỗi ván bạc, mỗi người chơi sẽ được chia 03 quân bài tú lơ khơ bất kỳ trong bộ bài 52 quân, ai có bài cao nhất là người thắng và được lấy toàn bộ số tiền cá cược trong ván bài đó, người chơi đầu tiên là chủ bàn (người được chơi trước ván đầu tiên) hoặc là người thắng ván trước. Cách tính điểm như sau: Nếu có 03 quân bài giống nhau về ký hiệu số hoặc chữ thì gọi là “sáp”, “sáp” là bài cao nhất, “sáp” lớn nhất là A,A,A và thấp nhất là 2,2,2. Nếu có 03 quân bài liên tiếp, tăng dần, không kể quân rô, cơ, hay bích, tép (sau đây gọi là chất) gọi là “liêng”, “liêng” lớn nhất là Q,K,A và thấp nhất là A,2,3, bài “liêng” là bài cao thứ hai sau “sáp”. Nếu được chia 03 quân bài có ký hiệu chữ (J; Q; K) và không thuộc trường hợp “sáp”; “liêng” thì gọi là “đi”. “Đi” là bài cao thứ ba sau “liêng”, “đi” lớn nhất là Q,K,K và nhỏ nhất là J,J,Q. Nếu bài không thuộc ba dạng bài trên thì sẽ tính điểm bằng cách cộng 03 quân bài, nếu tổng điểm lớn hơn 10 thì chia cho 10, phần dư là điểm của bài. Các quân A; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 tương ứng với số điểm là 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9, quân 10; J; Q; K được tính là 0 điểm. Khi bắt đầu ván bài, mỗi người chơi phải “vào tẩy” (hay còn gọi là sẩu), mức “tẩy” (tiền cược đầu ván) là 20.000đ. Mỗi ván bạc, người chơi sẽ được “tố”, “theo” hoặc “bỏ bài”. “Tố” là tăng tiền cược trong ván bạc, tố thấp nhất là 20.000đ. “Theo” là người chơi sau bỏ ra số tiền cược mà người chơi trước đã “tố”. “Bỏ bài” là người chơi không theo mức “tố” mà người trước đưa ra, đồng thời không tham gia ván cược đó nữa và bị mất toàn bộ tiền đã bỏ ra cá cược ban đầu. Mỗi ván bạc, theo chiều ngược chiều kim đồng hồ mỗi người chơi sẽ lần lượt “tố”, “theo” hoặc “bỏ bài” và được “tố” tối đa 03 lượt. Sau khi kết thúc ván, người chơi nào không bỏ bài và bài có số điểm cao nhất sẽ là người thắng cuộc. Trường hợp nếu hai bài ngang nhau thi so sánh theo “chất” của quân bài cao nhất có trong bài được chia, bài có “chất” lớn hơn sẽ thắng, các chất từ cao đến thấp lần lượt là R - C - Tép - Bích.

Hồi 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện H kiểm tra tại Phòng 401 nhà nghỉ “M”, quá trình kiểm tra T2 và N2 bỏ chạy khỏi hiện trường, L ném 5.100.000₫ vào thùng rác trong nhà vệ sinh. Thu giữ 52 quân bài T3 lơ khơ trong bồn cầu. Bắc tự nguyện giao nộp 1.890.000đ, T4 tự nguyện giao nộp số tiền 2.420.000đ, L2 tự nguyện giao nộp 2.155.000đ, P tự nguyện giao nộp 2.712.000đ, X tự nguyện giao nộp 1.800.000đ. Tổ công tác đã lập biên bản xác minh tin báo, niêm phong vật chứng và mời những người liên quan về trụ sở Công an huyện H làm việc.

* Vai trò, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” cụ thể như sau:

  1. Trần Đức L sử dụng 2.900.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván thắng 2.200.000đ, khi bị phát hiện có 5.100.000đ;
  2. Trần Văn T1 sử dụng 2.350.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván thắng 70.000đ, khi bị phát hiện có 2.420.000đ. Đổi cho Trần Đức L 900.000đ để đánh bạc;
  3. Nguyễn Trường X sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván thua 200.000đ, khi bị phát hiện còn 1.800.000đ;
  4. Đinh Văn L2 sử dụng 1.655.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván thắng 500.000đ, khi bị phát hiện có 2.155.000đ;
  5. Đỗ Văn N2 sử dụng 1.500.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván thua 1.250.000đ, khi bị phát hiện còn 250.000đ;
  6. Đinh Hồng T2 sử dụng 1.420.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván thua hết tiền;
  7. Đỗ Hồng P sử dụng 600.000đ để đánh bạc, đánh nhiều ván, thắng 100.000đ, khi bị phát hiện có 700.000đ;
  8. Trần Anh B sử dụng địa điểm do mình quản lý cho các bị cáo khác đánh bạc, nhưng không tham gia đánh bạc.

Tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.425.000đ (Mười hai triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSHY, ngày 26/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Trường X, Đinh Văn L2, Đỗ Văn N2, Đinh Hồng T2, Đỗ Hồng P, Trần Anh B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo L, X, L2, N2, T2, P, B theo tội danh, điều luật đã nêu trong Bản cáo trạng; kết luận bị cáo T1 bị truy tố về tội Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Trường X, Đinh Văn L2, Đỗ Văn N2, Đinh Hồng T2, Đỗ Hồng P, Trần Anh B, Trần Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần A Bắc từ 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (28/6/2024).

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức L từ 10 (Mười) tháng đến 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 08 (T5) tháng đến 02 (Hai năm) kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 10 (Mười) tháng đến 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 08 (T5) tháng đến 02 (Hai năm) kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn N2 từ 08 (T5) tháng đến 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm 08 (T5) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trường X từ 08 (T5) tháng đến 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm 08 (T5) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn L2 từ 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Hồng T2 từ 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Hồng P từ 06 (Sáu) tháng đến 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

- Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.175.000đ (Mười hai triệu một trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc bị cơ quan điều tra thu giữ.
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân.
  • + Truy thu của bị cáo Đỗ Văn N2 số tiến 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc.
  • + Trả lại cho bị cáo Đỗ Hồng P số tiền 2.012.000₫ (Hai triệu không trăm mười hai nghìn đồng).
  • + Trả lại cho bị cáo Trần A Bắc số tiền 1.890.000đ (Một triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, riêng đối với bị cáo L2 thuộc diện hộ nghèo tại địa phương và tại phiên toà có yêu cầu xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Đồng thời đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với các bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và mong được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản xác minh; vật chứng thu giữ cùng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến khoảng 23 giờ ngày 27/02/2024, Trần A Bắc là người quản lý nhà nghỉ “Mai Hoa”, thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H đã đồng ý cho các bị cáo Đỗ Hồng P, Trần Văn T1, Đinh Văn L2, Trần Đức L, Nguyễn Trường X, Đinh Hồng T2Đỗ Văn N2 sử dụng phòng 401 nhà nghỉ “Mai Hoa” để đánh bạc bằng hình thức “đánh L6” cá cược được thua bằng tiền VNĐ. Số tiền sử dụng đánh bạc và hành vi của các bị cáo cụ thể như sau:

  1. Trần Đức L sử dụng 2.900.000đ, đánh nhiều ván thắng 2.200.000đ khi bị phát hiện có 5.100.000đ;
  2. Trần Văn T1 sử dụng 2.350.000đ, đánh nhiều ván thắng 70.000đ, khi bị phát hiện có 2.420.000đ. Đối cho Trần Đức L 900.000đ;
  3. Nguyễn Trường X sử dụng 2.000.000đ, đánh nhiều ván thua 200.000đ, khi bị phát hiện còn 1.800.000đ;
  4. Đinh Văn L7 sử dụng 1.655.000đ, đánh nhiều ván thắng 500.000đ, khi bị phát hiện có 2.155.000đ;
  5. Đỗ Văn N2 sử dụng 1.500.000đ, đánh nhiều ván thua 1.250.000đ, khi bị phát hiện còn 250.000đ;
  6. Đinh Hồng T2 sử dụng 1.420.000đ, đánh nhiều ván thua hết tiền.
  7. Đỗ Hồng P sử dụng 600.000đ, đánh nhiều ván, thắng 100.000đ, khi bị phát hiện có 700.000đ và cho Trần Văn T1 vay 3.000.000đ, đổi cho Trần Đức L 2.000.000đ;
  8. Trần Anh B sử dụng địa điểm do mình quản lý cho các bị cáo khác đánh bạc, không tham gia đánh bạc.

Tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.425.000 (Mười hai triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 16 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, Trần Anh B, Nguyễn Trường X, Đỗ Văn N2 còn có hành vi đánh bạc bằng hình thức “đánh liêng” với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.000.000đ (một triệu đồng).

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với các bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây phương hại đến kinh tế hộ gia đình và có thể làm phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo đều là người có đầy đủ khả năng nhận thức, nhưng do ham mê đỏ đen nên vẫn tham gia đánh bạc trái phép để sát phạt nhau, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích vụ lợi. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng với mức độ, tính chất phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L, X, L2, T2, P, B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo L, N2, T1 có nộp Đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của UBND xã, thị trấn nơi các bị cáo cư trú, các bị cáo đều có 02 con nhỏ, vợ không có việc làm ổn định nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy các bị cáo đều có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể. Vì vậy, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy: Bị cáo L sử dụng 2.900.000đ để đánh bạc, bị cáo T1 sử dụng 2.350.000đ để đánh bạc, hai bị cáo này sử dụng số tiền lớn nhất và có vai trò cao nhất trong vụ án. Các bị cáo X, L2, N2, T2 sử dụng số tiền tương đương nhau để đánh bạc nên vai trò như nhau. Tuy nhiên bị cáo X sử dụng số tiền lớn hơn bị cáo L2, N2, T2; bị cáo N2 có nhân thân xấu nên đánh giá bị cáo XN2 có vai trò như nhau và cần xem xét mức án cao hơn bị cáo L2T2. Bị cáo P là người sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất nên có vai trò thấp nhất trong vụ án nhưng lại có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nên cần xem xét mức án cho phù hợp. Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện H đề nghị áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

Trong thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Nếu trong thời gian này, các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì các bị cáo phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015.

Riêng đối với bị cáo B, không tham gia đánh bạc nhưng có vai trò giúp sức, ngày 31/01/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố về tội Đánh bạc quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, đến ngày 27/01/2024 lại tiếp tục phạm tội, nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan Điều tra thu giữ số tiền 16.077.000 đồng (Mười sáu triệu không trăm bẩy mươi bẩy nghìn đồng), trong đó có: 2.012.000đ của bị cáo P không sử dụng để đánh bạc; 1.890.000đ của bị cáo B không sử dụng để đánh bạc; còn lại số tiền 12.175.000đ (Mười hai triệu một trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Xét thấy đây là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc trái phép nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo N2 dùng để đánh bạc, chưa nộp nên cần truy thu của bị cáo số tiền này.

Đối với số tiền 2.012.000₫ (Hai triệu không trăm mười hai nghìn) thu của bị cáo P và 1.890.000đ (Một triệu tám trăm chín mươi nghìn) thu của bị cáo B không sử dụng để đánh bạc cần tuyên trả lại cho các bị cáo này.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân đã qua sử dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là công cụ các bị cáo cùng các đối tượng khác sử dụng để đánh bạc trái phép, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, riêng đối với bị cáo L2 thuộc diện hộ nghèo và tại phiên toà bị cáo xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Thị C không biết các bị cáo sử dụng nhà nghỉ do mình quản lý để đánh bạc nên không xem xét xử lý.

Hành vi đánh bạc của Trần Anh B, Nguyễn Trường X, Đỗ Văn N2 chiều ngày 27/02/2024. Do tổng số tiền trong vụ đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị kết án về tội Đánh bạc hoặc tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển tài liệu đến Công an huyện H để xử phạt hành chính tại các Quyết định xử số 146, 147, 148 ngày 30/7/2024.

Do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các đối tượng trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trần Đức L, Trần Văn T1, Nguyễn Trường X, Đinh Văn L2, Đỗ Văn N2, Đinh Hồng T2, Đỗ Hồng P, Trần Anh B phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (28/6/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức L 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 08 (T5) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T1 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 08 (T5) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn N2 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường X 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn L2 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Hồng T2 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Hồng P 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2024).

Giao các bị cáo Trần Đức L, Trần Văn T1, Nguyễn Trường X, Đinh Văn L2, Đinh Hồng T2, Đỗ Hồng P cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Đỗ Văn N2 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.175.000đ (Mười hai triệu một trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 30/8/2024).
  • - Truy thu của bị cáo Đỗ Văn N2 số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc
  • - Trả lại cho bị cáo Đỗ Hồng P số tiền 2.012.000₫ (Hai triệu không trăm mười hai nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 30/8/2024).
  • - Trả lại cho bị cáo Trần A Bắc số tiền 1.890.000đ (Một triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 30/8/2024).
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trần Đức L, Trần Văn T1, Nguyễn Trường X, Đỗ Văn N2, Đinh Hồng T2, Đỗ Hồng P, Trần Anh B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn L2.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện H;
  • - CQĐT Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Các bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND thị trấn Tân Yên;
  • - UBND xã Yên Phú;
  • - Lưu HSVA, HSTHAHS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Anh B và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger