|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/DS-ST
Ngày: 09 - 8 - 2024
“V/v tranh chấp dân sự đòi tài sản
là di sản thừa kế”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Trọng Điền, ông Nguyễn Thanh Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu
Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 291/2023/TLST- DS ngày 15
tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp đòi tài sản là di sản thừa kể” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024
và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Di Kim M, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Số A, đường A,
ấp C, xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Bị đơn:
- Ông Vi Ngươn T, sinh năm 1966; nơi cư trú: số A T, khóm E, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Ông Vi Ngươn T1, sinh năm 1965; nơi cư trú: số G C, khóm E, phường
C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Các đồng thừa kế của ông Vi Đ (sinh năm 1924, chết năm 2005) và bà
Đinh Ngọc P (sinh năm 1926, chết năm 2013) gồm:
1. Bà Vi Kim C, sinh năm 1941 (đã chết) có đồng thừa kế gồm:
2
+ Lâm Mậu T2, sinh năm 1961; nơi cư trú:số C T, khóm E, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang;
+ Lâm Duy S, sinh năm 1962; nơi cư trú: số B T, khóm E, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang.
2. Vi Kim Đ2, sinh năm 1948; nơi cư trú: số G C, khóm E, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang;
3. Vi Kim K, sinh năm 1951; nơi cư trú: G T, phường B, thành phố L, tỉnh
An Giang;
4. Vi Thị Kim M1, sinh năm 1957; nơi cư trú: số C L, khóm E, phường
C, thành phố C, tỉnh An Giang;
5. Vi Ngươn H, sinh năm 1959, số B N, khóm E, phường C, thành phố C,
tỉnh An Giang;
6. Ông Vi Ngươn T, sinh năm 1966; nơi cư trú: số A T, khóm E, phường
C, thành phố C, tỉnh An Giang.
7. Ông Vi Ngươn T1, sinh năm 1965; nơi cư trú: số G C, khóm E, phường
C, thành phố C, tỉnh An Giang.
8. Vi Ngươn Đ1, sinh năm 1968; nơi cư trú: số A Đ, khóm E, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của các ông (bà) T2, S, Đ2, K, M1, H, Đ1
là ông Vi Ngươn T1, sinh năm 1965; nơi cư trú: số G C, khóm E, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
- Bà Huỳnh Thu V, sinh năm 1964, nơi cư trú: khóm E, phường C, thành
phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Di Kim M trình bày: Cha mẹ của bà M là ông Vi Ngươn B (sinh năm
1963, chết năm 2019) và bà Dương Kim H1 (sinh năm 1965, chết năm 2023), có
01 người con duy nhất là bà M, không nhận ai làm con nuôi. Ông B có cha là
ông Vi Đ (sinh năm 1924, chết năm 2005) và mẹ là bà Đinh Ngọc P (sinh năm
1926, chết năm 2013), có các anh chị em gồm: bà Vi Kim C (đã chết), bà Vi Thị
Kim Đ2, bà Vi Thị Kim K, bà Vi Thị Kim M1, ông Vi Ngươn H, ông Vi Ngươn
T, ông Vi Ngươn T1 và ông Vi Ngươn Đ1.
Sinh thời, ông B được cha mẹ tặng cho 01 căn nhà gắn liền với đất diện
tích khoảng 68,5m² (diện tích đo đạc thực tế là 63,7m²) tọa lạc số 313, đường T,
khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Nhà, đất chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất sử dụng đất.
Sau khi kết hôn, ông B và bà H1 sinh sống tại căn nhà nêu trên đến năm
1987 thì ông B và bà Hoàng ly H2, bà H1 mang bà M về thành phố L để sinh
3
sống, ông B vẫn tiếp tục sinh sống tại đây đến năm 2019 thì bệnh chết, không để
lại di chúc. Giấy tờ về nguồn gốc nhà, đất do ông T đang giữ, còn về nhà, đất do
ông T1 đang quản lý và hiện cho bà V thuê để buôn bán. Nay bà M khởi kiện,
yêu cầu Tòa án xác định bà M là người thừa kế của ông B và yêu cầu ông T, ông
T1 giao trả nhà, đất nêu trên, để bà M làm thủ tục kê khai, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Vi Ngươn T
trình bày: Cha mẹ ông T là ông Vi Đ (sinh năm 1924 – chết năm 2005) và bà
Đinh Ngọc P (sinh năm 1926 – chết năm 2013) có 7 người con gồm: Vi Thị Kim
C1 (sinh năm 1956, chết lúc 13 tuổi), Vi Thị Kim M1, Vi Ngươn H, Vi Ngươn
B, Vi Ngươn T1, Vi N và Vi Ngươn Đ1. Ngoài ra thì ông Vi Đ còn có con của
vợ trước là Vi Kim C, Vi Kim Đ2, Vi Kim K. Sinh thời cha mẹ có tạo lập được
nhiều khối tài sản trong đó, có căn nhà gắn liền với đất (trước đây gọi là bar đúc)
tọa lạc đường T, khóm E, phường C, thành phố C, phần đất này cha ông T đứng
tên, giấy tờ chứng minh nguồn gốc nhà đất do ông T đang giữ.
Căn nhà gắn liền với đất nêu trên, cha cho lại ông B nhưng do ông B ăn
chơi nên cha không giao giấy tờ nhà đất để sang tên. Sinh thời, ông B có 01
người vợ tên H1 và 01 người con tên M (là nguyên đơn đang khởi kiện ông T),
khi vợ chồng ông B ly hôn không còn sống chung thì chị H1 là người nuôi con
(thời điểm đó Mỹ còn rất nhỏ), chính vì vậy khi lớn lên Mỹ không phụng dưỡng,
chăm sóc cho ông B ngày nào và khi đám cưới của M thì ông B có đến dự
nhưng M xua đuổi ông B nên ông B rất buồn, cũng từ đó các giấy tờ nhà đất nêu
trên ông B đề nghị với các anh chị em giao cho ông T giữ, đến năm 2019 thì ông
B bệnh chết.
Do đó, ông T không thừa nhận Mỹ là con của ông B vì không có công
chăm sóc, phụng dưỡng cho ông B nhưng nay lại khởi kiện để yêu cầu nhận tài
sản của ông B. Ông T có ý kiến khi còn sống ông B không làm được việc thiện
nào nên nay nếu trong số các anh chị em có người đại diện đứng ra đồng ý dùng
1.000.000.000 (một tỷ) đồng để làm từ thiện thay cho ông B thì ông T đồng ý
giao giấy tờ nhà đất để M đi làm thủ tục nhận tài sản. Đồng thời, theo kết quả
định giá tài sản nhà đất trị giá 3.388.861.140 đồng thì ông T sẵn sàng hoàn giá
trị lại cho các anh chị em để ông T nhận nhà đất nêu trên.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và là người đại diện
theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông (bà) T2, S,
Đ2, K, M1, H, Đ1 trình bày: Ông T1 và ông B là một trong những người con
của cụ Vi Đ và Đinh Ngọc P. Ông B có vợ là Dương Kim H1 và 01 người con là
Di Kim M, không có con riêng và không nhận ai làm con nuôi. Sinh thời, ông B
được cha mẹ tặng cho 01 bar đúc địa chỉ hiện nay là số C, đường T, khóm E,
phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Việc tặng cho chỉ nói miệng, không có
làm giấy tờ nhưng các anh chị em của ông B đều biết và thừa nhận, đồng thời
ông B đã quản lý, sử dụng nhà đất này từ khoảng năm 1990 đến khi ông B bệnh
chết vào năm 2019. Hiện nay, tài sản này do ông T1 quản lý và đang cho bà
4
Huỳnh Thu V thuê để buôn bán, giá thuê 6.000.000 đồng/tháng, số tiền này
dùng để lo hương hỏa và làm từ thiện cho ông B.
Ông T1 và các anh chị em khác đều xác định nhà đất nêu trên là di sản của ông
B và M là con ruột của ông B nên nay đối với yêu cầu khởi kiện của M thì ông
T1 đồng ý, đề nghị Tòa án xác định đây là di sản của ông B và ông T1 đồng ý
giao lại cho M quản lý và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
pháp luật.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Huỳnh Thu V trình bày: Khoảng tháng 8/2022, bà V có thuê của
ông T1 căn bar đúc tại địa chỉ C, đường T, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh
An Giang, giá thuê 6.000.000 đồng/tháng. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà M
thì không có ý kiến, chấp hành theo quyết định của Tòa án và xin được vắng mặt
khi Tòa án triệu tập để tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa,
· Nguyên đơn bà M yêu cầu xác định bà M là người thừa kế của ông B, do
ông B chết không để lại di chúc nên bà yêu cầu được nhận di sản này theo quy
định pháp luật và yêu cầu ông T1 giao trả căn nhà gắn liền với đất diện tích
63,7m² tọa lạc số 313, đường T, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An
Giang, để bà M làm thủ tục kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đồng thời, rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông T giao trả nhà
đất, bởi vì thực tế ông T không có quản lý nhà đất mà chỉ giữ các giấy tờ về
nguồn gốc nhà đất. Ngoài ra, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp
bổ sung.
- Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông T1 vẫn giữ nguyên lời khai như đã trình bày trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.
- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán
được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan
hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài
liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định
tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội
đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét
sử sơ thẩm vụ án.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp
hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền,
nghĩa vụ của mình. Ông T, bà V vắng mặt thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng
mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về giải quyết vụ án:
5
Xét thấy, về nguồn gốc nhà, đất tranh chấp là của các cụ Vi Đ (sinh năm
1924, chết năm 2005) và Đinh Ngọc P (sinh năm 1926, chết năm 2013); chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà. Các đồng thừa
kế của các cụ Đ và P gồm Vi Kim C (chết) có đồng thừa kế là Lâm Mậu T2 và
Lâm Duy S, Vi Kim Đ2, Vi Kim K, Vi Thị Kim M1, Vi Nguơn H3, Vi Nguơn
B1, Vi Nguơn T3, Vi Nguơn T1, Vi Nguơn Đ đều thừa nhận sinh thời cụ Đ, P đã
tặng cho ông Vi N Bình nhà, đất tranh chấp. Đồng thời, các đương sự đều thừa
nhận bà M là con duy nhất của ông B1. Năm 2019, ông B1 chết, không để lại di
chúc; năm 2023 bà H1 (mẹ của Mỹ) chết. Hiện nay, ông T1 là người quản lý tài
sản; ông T1 đồng ý trả lại tài sản cho bà M.
Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu xác định nhà, đất là di sản của ông B1 và
yêu cầu được nhận nhà, đất tranh chấp từ ông T1 để làm thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ. Đối với việc ông T3 không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà M vì cho rằng bà M không có công phụng dưỡng,
chăm sóc ông B1. Thấy rằng, xuất phát từ mâu thuẫn giữa ông B1 và bà H1 (mẹ
của bà M) từ khi M vừa sinh ra, bà H1 đã mang con về nhà ngoại sinh sống đến
nay, nên bà không có điều kiện để có thể chăm sóc, phụng dưỡng ông B1 hằng
ngày. Tuy nhiên, bà M vẫn tới lui thăm hỏi ông B1 cùng gia đình nhà nội, được
các cô, chú, bác thừa nhận là cháu. Xét, việc bà M không phụng dưỡng, chăm
sóc ông B1 hằng ngày xuất phát từ điều kiện khách quan, không phải bà M vi
phạm nghĩa vụ làm con, thuộc các trường hợp không được nhận di sản thừa kế
như lời trình bày của ông T3.
Đối với việc bà M rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông T3, xét thấy đây là
sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định pháp luật nên cần đình chỉ theo
quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ theo các Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật
Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như phân tích
trên. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà M khởi kiện yêu cầu xác định bà
là người thừa kế của ông Vi Ngươn B và yêu cầu ông Vi Ngươn T1, Vi N1
Thạnh trả lại căn nhà gắn liền với diện tích đất 63,7m² tọa lạc số 313, đường T,
khóm E, phường C, thành phố C. Bị đơn ông T1, ông T3 có nơi cư trú tại khu
vực phường C, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
6
[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Dương
Kim H1 là vợ của ông Vi Ngươn B. Tuy nhiên theo trình bày của các đương sự
giữa ông B và bà H1 đã ly hôn từ khoảng năm 1987 nhưng không rõ có làm thủ
tục ly hôn theo quy định pháp luật hay chưa. Đồng thời, bà H1 có văn bản xác
nhận ngày 30/3/2023 về việc từ chối nhận di sản và đến ngày 26/4/2023 thì bà
H1 chết. Do đó, Tòa án không đưa bà H1 cũng như người thừa kế của bà H1
tham gia tố tụng trong vụ án.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông T3 vắng mặt tại phiên tòa
lần thứ hai, bà V có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vụ án vắng mặt ông T3, bà V theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[4] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, bà M rút lại một phần
yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông T3 giao trả căn nhà gắn liền với đấ tnên Tòa
án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của bà M và đình chỉ
một phần yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 244
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[5] Về hàng thừa kế của ông Vi Ngươn B: Các đương sự đều xác định ông
Vi Ngươn B có cha mẹ là ông Vi Đ (sinh năm 1924 – chết năm 2005) và Đinh
Ngọc P (sinh năm 1926 – chết năm 2013), có vợ là bà Dương Kim H1 (sinh năm
1965, chết năm 2023, bà H1 có đơn xác nhận từ chối nhận di sản) và ông B có
01 người con duy nhất là bà Di Kim M, không có con riêng và cũng không nhận
ai làm con nuôi. Xét, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải phải
chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
và điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên có căn cứ xác định
bà M là người thừa kế theo pháp luật của ông B.
[6] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng tài sản tranh chấp:
Các đương sự đều xác định nguồn gốc căn nhà gắn liền với đất tọa lạc số
313, đường T, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang là do cha mẹ tặng
cho ông Vi Ngươn B quản lý, sử dụng.
Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ4 lập ngày
18/9/2023 thể hiện phần đất có diện tích 63,7m² thuộc thửa đất số 100, tờ bản đồ
số 23, đường T, phường C, thành phố C.
Theo kết quả xác minh do UBND phường C A cung cấp: Sổ mục kê được
duyệt năm 2003, ông B có kê khai thửa đất số 100, tờ bản đồ số 23, diện tích
62,5m² tọa lạc số 313, T, khóm E, phường C, thành phố C”.
Ngoài ra, theo các kết quả xác minh tại Văn phòng đăng ký đất – Chi
nhánh C2 cung cấp không tìm thấy thông tin liên quan đến việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 100, tờ bản đồ số 23. Đồng thời,
Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C cung cấp vị trí đất nêu trên được
quy hoạch là đất ở và căn cứ Điều 99 Luật đất đai năm 2013 quy định về trường
7
hợp sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định, căn nhà gắn liền với đất diện
tích 63,7m² thuộc thửa đất số 100, tờ bản đồ số 23 theo Bản trích đo hiện trạng
khu đất do Công ty TNHH Đ4 lập ngày 18/9/2023 là di sản của ông Vi Ngươn B
để lại.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà M thấy rằng căn nhà gắn liền với đất diện
tích 63,7m² thuộc thửa đất số 100, tờ bản đồ số 23 tọa lạc số 313, Trần Hưng
Đ3, khóm E, phường C, thành phố C là di sản của ông B. Ông B chết không để
lại di chúc, bà Di Kim M là người thừa kế theo quy định pháp luật của ông B
nên có quyền nhận di sản thừa kế. Ông T1 đang quản lý, sử dụng di sản nhưng
không thuộc hàng thừa kế của ông B nên bà M khởi kiện yêu cầu ông T1 giao
trả căn nhà gắn liền với đất nêu trên là có căn cứ.
[6] Về công sức giữ gìn, bảo quản di sản: Ông B chết năm 2019, di sản
dược ông T1 và các anh em quản lý và cho bà V thuê để buôn bán, các đương sự
không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về ý kiến trình bày của ông Vi Ngươn T: Ông T cho rằng bà M không
có công chăm sóc, phụng dưỡng cho ông B nên không đồng ý để bà M nhận di
sản của ông B. Xét thấy, do từ nhỏ bà M đã được mẹ ruột (bà H1) mang về thành
phố L để nuôi dạy, vì vậy mới sống xa cách ông B, đến khi trưởng thành bà M
có về thăm hỏi ông B cùng bà con bên nội và được anh chị em của ông B nhìn
nhận là cháu. Mặc dù, không có công chăm sóc, phụng dưỡng nhưng bà M vẫn
là huyết thống, là con ruột của ông B và là người thừa kế duy nhất của ông B.
Đồng thời, bà M không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo
khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, việc bà M được nhận di sản
của cha mình để lại là phù hợp với truyền thống, đạo đức xã hội và quy định
pháp luật nên đối với yêu cầu của ông T là không có căn cứ để xem xét.
[8] Về chi phí tố tụng: Bà M đã nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo
đạc và định giá. Bà M đã nộp đủ và tự nguyện chịu các chi phí này.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà M được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho bà M 7.500.000 đồng.
Ông T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 166, Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
8
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Di Kim M về việc yêu cầu
ông V1 Ngươn Thạnh giao trả căn nhà gắn liền với đất.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Di Kim M:
- Căn nhà gắn liền với đất diện tích đất 63,7m², thuộc thửa đất số số 100,
tờ bản đồ số 23, tọa lạc số 313, đường T, khóm E, phường C, thành phố C là di
sản của ông Vi Ngươn B. Bà Di Kim M được quyền nhận di sản của ông Vi
Ngươn B.
- Buộc ông Vi Ngươn T1 có trách nhiệm trả lại căn nhà gắn liền với diện
tích đất 63,7m², thuộc thửa đất số số 100, tờ bản đồ số 23, tọa lạc số 313, đường
T, khóm E, phường C, thành phố C cho bà Vi Kim M2 tại các điểm A, 12, 21,
17, 20, 10, 23 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ4 lập
ngày 18/9/2023,
- Bà Di Kim M có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để làm thủ tục đăng ký và thực hiện về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất diện tích 63,7m², thuộc thửa đất số số 100, tờ
bản đồ số 23, tọa lạc số 313, đường T, khóm E, phường C, thành phố C theo quy
định pháp luật.
(Đính kèm Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ4 lập
ngày 18/9/2023)
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Di Kim M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà
M số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp theo biên lai 0003092 ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Ông Vi Ngươn T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự
sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà M, ông T1 có quyền kháng cáo
để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn
kháng cáo của ông T, bà V là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản
án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). |
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đại Nam |
9
Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự đòi tài sản là di sản thừa kế
- Số bản án: 52/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự đòi tài sản là di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M kiện T đòi lại nhà đất là di sản thừa kế
