|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/DSST Ngày: 05/8/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Lê Thị Đông Nguyệt.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền– Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 84/2024/TLST-DS ngày 08/5/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 65/2024/QĐST-DS ngày 17/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S chỉ: 2 N, Phường V, Quận C, TP H diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D– Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Thị T TChức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP S1 (Văn bản ủy quyền số 116/2024, ngày 19/4/2024). Địa chỉ: 205-207-209-211 H, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị L năm 1992; Địa chỉ: H N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/4/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (viết tắt là Ngân hàng), bà Trương Thị Thu T1 trình bày: Ngày 20/5/2019 bà Phạm Thị L1 có ký với Ngân hàng TMCP S2- chi nhánh PGiấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1273871, ngày 25/5/2019, số tài khoản 34458460299 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, lãi suất 22,4%/năm, thời hạn không xác định, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng thì bà L2 hiện trả nợ đầy đủ nhưng sau đó thì không trả nợ cho ngân hàng. Nên đến ngày 22/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển nợ quá hạn đối với nợ gốc và lãi là 48.251.896 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, gửi thông báo khởi kiện nhưng bà L3 không thực hiện, bà L4 vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Lthanh t toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi quá hạn tạm tính đến ngày 05/8/2024 dư nợ : 57.075.620 đồng, nợ gốc 48.251.896 đồng, lãi quá hạn 8.823.724 đồng.
Và số tiền lãi phát sinh từ sau ngày 05/8/2024 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng – số hợp đồng 1273871 ngày 25/5/2019 đã ký kết cho đến khi bà Lê t1 nợ vay. Buộc bà Lê p trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh liên quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Phạm Thị L1 vắng mặt nên không có lời trình bày.
Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hoà giải nhưng không thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng qui định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật; Bị đơn bà L không chấp hành các quy định pháp luật. Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân không có mục đích kinh doanh là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Phạm Thị L1 có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Phạm Thị L1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Hiệu lực của Hợp đồng tín dụng: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng – số hợp đồng 1273871 ngày 25/5/2019, số tài khoản thẻ 3445846029 giữa bà Phạm Thị L1 và Ngân hàng TMCP S2 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật là hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực thi hành.
[3.2] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng – số hợp đồng 1273871 ngày 25/5/2019, số tài khoản thẻ 3445846029 giữa bà Phạm Thị L1 và Ngân hàng TMCP S2, xác định bị đơn bà Phạm Thị L1 có vay của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S2 số tiền 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất hai bên thỏa thuận 22,4%/năm, hình thức vay: tín chấp, thời hạn vay: không xác định.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà L không trả nợ cho Ngân hàng nên ngày 22/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn là 48.251.896 đồng. Nhiều lần, Ngân hàng yêu cầu bà Lê t2 và có Thông báo số 87/2024/TB-KSRR ngày 02/02/2024 về việc khởi kiện cho bà L nhưng bà L vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Tính đến ngày 05/8/2024 bà L còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền 57.075.620 đồng, nợ gốc 48.251.896 đồng, lãi quá hạn 8.823.724 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nêu trên.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S2 là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn Phạm Thị L1 phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền 57.075.620 đồng, trong đó nợ gốc là 48.251.896 đồng, nợ lãi 8.823.724 đồng và số tiền lãi phát sinh từ sau ngày 05/8/2024 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1273871 ngày 25/5/2019, số tài khoản thẻ 3445846029 mà hai bên đã ký kết cho đến khi bà Lê t1 nợ vay
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S2;
Buộc bị đơn Phạm Thị L1 phải trả cho Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S2 tổng số tiền tính đến ngày 05/8/2024 là 57.075.620 (Năm mươi bảy triệu, bảy mươi lăm nghìn, sáu trăm hai mươi) đồng; trong đó nợ gốc 48.251.896 (Bốn mươi tám triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn, tám trăm chín mươi) đồng và nợ lãi 8.823.724 (Tám triệu, tăm trăm hai mươi ba nghìn, bảy trăm hai mươi bốn) đồng về khoản tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Về án phí: Bị đơn Phạm Thị Lê phải chịu 2.854.000 (Hai triệu, tám trăm năm mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 1.287.000 (Một triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002459 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - TAND tỉnh Phú Yên;
- - VKSND Tp. Tuy Hòa;
- - Chi cục THADS Tp . Tuy Hòa
- - Lưu hồ sơ, án văn.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Bùi Thị Thuỳ Trân |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Khắc Hiếu Lê Thị Đông Nguyệt |
Bùi Thị Thuỳ Trân |
Bản án số 52/2024/DSST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA NH- LÊ
