|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 52/2024/DS-ST
Ngày: 22/4/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như.
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Rạt
Ông Nguyễn Thanh Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Còn – Kiểm sát viên.
Ngày 22/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 133/2024/TLST-DS, ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐST-DS ngày 18/3/2024 giữa:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Tuấn A, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ô, khu A, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thái B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(ông A có mặt, B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án, ông Đỗ Tuấn A trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên vào ngày 26/6/2023, ông có cho ông Nguyễn Thái B vay số tiền 200.000.000 đồng, ông B có viết giấy nhận nợ, thời hạn trả nợ là 06 tháng đến ngày 16/12/2023 ông B sẽ trả lại tiền. Tuy nhiên, đã quá thời hạn cam kết nhưng ông B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù ông có nhắc nhỡ nhiều lần.
Nay ông khởi kiện yêu cầu bà ông Nguyễn Thái B phải có trách nhiệm trả cho ông số tiền vay ngày 26/6/2023 là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/12/2023 là 10.000.000 đồng. Tổng cộng là 210.000.000 đồng.
Tại phiên tòa ông Tuấn A thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông B phải trả cho ông số tiền gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất theo quy định kể từ ngày 26/12/2023 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, mức lãi theo quy định là 0,83%/tháng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/3/2024, ông Nguyễn Thái B trình bày: Ông xác nhận có vay của ông A số tiền 200.000.000 đồng, ông B khởi kiện yêu cầu ông thanh toán số nợ trên cùng tiền lãi, ông B đồng ý nhưng xin trả dần mối tháng 1.000.000 đồng vì hiện tại đang gặp khó khăn về kinh tế, ông không có việc làm.
Tòa án không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn không bổ sung ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đỗ Tuấn A tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Nguyễn Thái B, ông B hiện đang cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Thái B mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo quy định tại các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Ông Đỗ Tuấn A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thái B trả lại số tiền vay 200.000.000 đồng và lãi suất theo quy định từ ngày vi phạm nghĩa vụ cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm.
[2.1] Qua tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp và lời trình bày của đương sự, thấy rằng: Giữa ông A và ông B có phát sinh giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản, thể hiện qua “giấy mượn tiền” lập ngày 26/6/2023, ông B có vay của ông A số tiền 200.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay là 06 tháng. Ông B có ký tên, lăn tay vào giấy, ông B cũng thừa nhận còn nợ ông A số tiền 200.000.000 đồng và xin được trả dần (thể hiện trong biên bản lấy lời khai ngày 08/3/2024). Tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý cho bị đơn được trả dần số tiền trên. Như vậy, căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự, xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vay là 200.000.000 đồng và cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ theo hợp đồng vay là 200.000.000 đồng, sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Theo “giấy mượn tiền” ghi ngày 26/6/2023 thì ông B cam kết đến hết ngày 26/12/2023 sẽ trả tiền cho ông A nhưng ông B không thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, đây là hợp đồng vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ nhưng không có thỏa thuận lãi, do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ông A khởi kiện yêu cầu ông B phải thanh toán thêm khoản tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ (26/12/2023) đến nay là phù hợp vời khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận.
Cụ thể mức lãi suất chậm trả được tính như sau: Nợ gốc 200.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 03 tháng 26 ngày (từ ngày 26/12/2023 đến ngày 22/4/2024) là 6.418.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là: 206.418.000 đồng
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 là đúng quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Tuấn A về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Thái B.
Buộc ông Nguyễn Thái B phải thanh toán cho ông Đỗ Tuấn A số nợ gốc 200.000.000 đồng nợ lãi là 6.418.000 đồng. Tổng cộng là 206.418.000đồng (hai trăm lẻ sáu triệu, bốn trăm mười tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Thái B phải nộp 10.321.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
H lại cho ông Đỗ Anh T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.250.000đồng (năm triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006030 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Ngọc Như |
Bản án số 52/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 52/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tuấn Anh "Tranh chấp vay" Nguyễn Thái Bình
