Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25 tháng 8 năm 2023

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tư.
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên

Ngày 25/8/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Vũ Thị Ngọc A, sinh năm 1996.

ĐKHKTT: Phòng 1806 Chung cư B, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

* Người bị kiện: Anh Nguyễn Văn T – sinh năm 1992.

Nơi ở hiện nay: Phòng 1806 Chung cư B, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Chị Ngọc A1 và anh T đều có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2023 và ý kiến trình bày của nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Ngày 01/4/2019, chị và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hòa hợp với nhau, đôi khi có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Khoảng thời gian năm 2020-2021, giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ngày càng nhiều, thường xuyên cãi nhau. Tháng 2/2023, do mâu thuẫn gay gắt nên chị Ngọc A1 về sống chung với bố mẹ đẻ tại Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Hai vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay.

Mặc dù đã được gia đình hai bên, bạn bè khuyên giải nhưng mâu thuẫn giữa anh chị không thể giải quyết được. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, hòa hợp được, việc tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng không mang lại hạnh phúc. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ngọc A1 yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 người con chung là Cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 30/12/2019. Hiện nay, cháu đang ở cùng với anh T. Sau khi ly hôn giao con chung cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày :

- Về quan hệ vợ chồng : Anh T thống nhất với lời trình bày của chị Ngọc A1 về thời gian, điều kiện kết hôn, diễn biến quá trình chung sống của vợ chồng. Vào ngày 09/2/2023 anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Sau thời gian nêu trên được 02 hôm thì chị Ngọc A1 bỏ đi. Từ khi bỏ đi thì chị Ngọc A1 không quay lại sống chung với anh nữa. Nay chị Ngọc A1 xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung : Anh chị có 01 người con chung tên là Nguyễn Thảo V, sinh ngày 30/12/2019. Hiện nay cháu đang ở cùng với anh. Sau khi ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi cháu V. Về vấn đề cấp dưỡng tôi không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Tại biên bản làm việc ngày 20/7/2023 đối với ông Vũ Đình M là bố đẻ của chị Vũ Thị Ngọc A cung cấp: ông là bố đẻ của cháu Vũ Thị Ngọc A. Năm 2019, cháu Vũ Thị Ngọc A kết hôn với anh Nguyễn Văn T. Khi kết hôn hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn cháu Ngọc A1 về chung sống với anh Nguyễn Văn T. Vào cuối năm 2021, ông có nghe cháu Ngọc A1 tâm sự là 2 vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm. Vào tháng 2/2023 thì cháu Ngọc A1 chuyển về ở cùng với vợ chồng ông. Mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì ông không rõ. Tuy nhiên, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải cho cháu Ngọc A1 và cháu T nhưng không được. Nay cháu Ngọc A1 đề nghị ly hôn ông đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A và anh Nguyễn Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • + Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 30/12/2019 cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • + Về án phí: Chị Ngọc A1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Ngọc A1, anh T là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Ngọc A1, anh T đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Ý kiến trình bày của nguyên đơn, bị đơn là anh chị tự nguyện kết hôn, có giấy chứng nhận kết hôn năm 2019. Đây là chứng cứ chứng minh quan hệ hôn nhân của chị Ngọc A1 và anh T phát sinh trong thời gian Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành. Hôn nhân của chị Ngọc A1 và anh T phù hợp quy định pháp luật được coi là vợ chồng, hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Chị Ngọc A1 xin ly hôn anh T, anh T đồng ý ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Ngọc A1 và anh T đến nay đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Chị Ngọc A1 và anh T có 01 người con chung là cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 30/12/2019. Hội đồng xét xử thấy: chị Ngọc A1 có đề nghị sau khi ly hôn giao con chung cho anh T là người trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh T đồng ý và hiện nay cháu V đang ở cùng với anh T nên cần giao cháu V cho anh T là người trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đương sự nào yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Ngọc A được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 30/12/2019 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn chị Ngọc A1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung không ai được cản trở chị Ngọc A1 thực hiện quyền này.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

  1. Về án phí: chị Vũ Thị Ngọc A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Xác nhận chị đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002302 ngày 22/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Ngọc A, anh Nguyễn Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang,
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - UBND xã Ngọc Thiện, huyện Tân Yên;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 52/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ng xin ly hôn anh Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger