Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024

V/v: “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ – TP. CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Huệ
  • Ông Cao Thanh Việt

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Hồng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các bên đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Võ Thanh H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phần trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa như sau:

Bà và ông H tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/02/2014. Quá trình sống có con chung tên Võ Quốc P (nam), sinh ngày 27/11/2012.

Ban đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau xảy ra mâu thuẫn. Bà và ông H không cùng quan điểm sống, vợ chồng không còn hợp nhau thường xuyên gây cãi dẫn đến không còn tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc dẫn đến không còn sống chung với nhau. Nay, cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông H có con chung Võ Quốc P (nam), sinh ngày 27/11/2012. Hiện tại cháu P đang sinh sống cùng ông H nên bà đồng ý giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía ông Võ Thanh H đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập nhưng ông không đến Tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ việc; tiến hành xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; thực hiện việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

- Quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, dần về sau phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Thì 1 có cơ sở.

- Về con chung: Bà T xác định giữa bà với ông H có con chung là Võ Quốc P (nam), sinh ngày 27/11/2012. Bà T đồng ý giao con chung cho ông H và hiện tại con chung cũng đang sinh sống cùng ông H nên đề nghị tiếp tục giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng do ông H vắng mặt không ghi nhận được ý kiến của ông nên đề nghị tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu ông H có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T và ông Võ Thanh H có đăng ký kết hôn nên xác định hôn nhân hợp pháp thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Võ Thanh H có địa chỉ cư trú tại số D, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Võ Thanh H vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, vợ chồng không còn hợp nhau thường xuyên gây cãi dẫn đến không có tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc dẫn đến không còn sống chung với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà T, ông H đã trầm trọng không thể vận động đoàn tụ do ông bà không còn sự yêu thương, tin tưởng nhau trong cuộc sống nên bà T yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông H có con chung là Võ Quốc P (nam), sinh ngày 27/11/2012. Bà T đồng ý giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Qua xác minh ngày 10/4/2024, cháu P đang sinh sống bình thường cùng ông H, để tạo điều kiện tốt cho cháu P, Hội đồng xét xử thiết nghĩ tiếp tục giao cháu P cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bị đơn ông H vắng mặt không ghi nhận được ý kiến của ông về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu ông H có yêu cầu và có cơ sở để chứng minh. Bà T được quyền thăm nom, giáo dục con chung và không ai được quyền cản trở bà thực hiện quyền này.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên nên không xem xét giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu câu và có đủ cơ sở chứng minh.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 232, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Võ Thanh H.

    Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Võ Thanh H.

    Về con chung: Giao con chung Võ Quốc P (nam), sinh ngày 27/11/2012 cho ông Võ Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bị đơn vắng mặt và chưa yêu cầu.

    Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà T không ai được quyền ngăn cản bà thực hiện quyền này.

    Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu số 0007929 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà T đã nộp xong án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Cần Thơ;
  • - Viện kiểm sát ND H. Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS H. Cờ Đỏ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Trung Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Võ Thanh H. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Võ Thanh H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger