Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 52/2024//HS-ST

Ngày: 19-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.

Ông Mạc Vương Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số : 58/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1989; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Sán Chí; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Lý Thị T1 (đã chết); Vợ, con: Chưa có;

Tiền án:

  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 329/2020/HS-ST ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Trần Văn T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST ngày 10/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Trần Văn T 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Đến thời điểm phạm tội chưa được xóa án tích.
  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2015/HSST ngày 25/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Trần Văn T 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng.
  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2018/HSST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Trần Văn T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023, hiện bị tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Người bào chữa của bị cáo: Ông Thân Văn L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Cao Văn M, sinh năm 1969 (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Đều cư trú: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ ngày 22/12/2023, Tổ công tác của Công an xã P phối hợp với Công an xã S, huyện L và Tổ tuần tra tự quản Cựu Chiến binh thôn C, xã P, huyện L, trong quá trình tuần tra phát hiện, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang đối tượng Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại thôn C, xã P, huyện L. Tang vật thu tại túi áo khoác bên trái Tính đang mặc 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã niêm phong đoạn ống nhựa trên vào phong bì dán kín ký hiệu “QT”.

Cùng ngày Công an xã P, huyện L, đã bàn giao người, tang vật cùng tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở tại thôn T, xã S, xã P, huyện L và địa điểm T mua ma túy thuộc thôn B, xã B, huyện L. Kết quả khám xét, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 2579/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu là ma tuý, có khối lượng 0,108 gam, loại Heroine.

Qua đấu tranh Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: khoảng 09 giờ ngày 22/12/2023 T đi xe mô tô đến cửa hàng xe máy Lên Hoan ở ngã ba K, xã H, huyện L gửi xe mô tô. Sau đó T đi xe buýt lên khu vực xã B, huyện L mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực cây xăng xã B, T đi bộ vào 01 ngôi nhà cạnh đường Q (Quá trình điều tra xác định nhà của Vũ Đình P, sinh năm 1983 ở thôn B, xã B, huyện L). Đến nơi T thấy cổng khóa, T gọi qua khe cửa “Anh ơi cho em một cái”, không thấy ai trả lời, T đưa tờ tiền Polime mệnh giá 100.000₫ qua khe cửa, thì có người trong nhà cầm tiền và vứt ra cho T 01 đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy H1 (T không biết mặt, danh tính người đưa ma túy); T cầm ma túy và đút vào trong túi áo khoác đang mặc, sau đó đi xe Buýt đến ngã ba K, xã H, huyện L, sau đó T đi xe khách đến ngã ba Cầu T, xã P, huyện L, sau đó T đi nhờ xe mô tô của người đi đường đến thôn C, xã P, huyện L, sau đó T đi bộ để đi về nhà thì bị Tổ Công tác Công an xã P và xã S bắt quả tang thu giữ vật chứng là ma túy có đặc điểm nêu trên.

Ngày 16/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành xác định hiện trường ở thôn B, xã B, huyện L (nơi Tính mua ma túy), quá trình xác định hiện trường chụp ảnh, vẽ sơ đồ lưu hồ sơ vụ án.

Đối với người bán ma túy cho Trần Văn T (theo như lời khai của T không biết ai, địa chỉ ở đâu). Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân của đối tượng này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì dán kín ký hiệu “QT” do phòng K Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám được chuyển đến kho vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L để xử lý.

* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 63/CT-VKSLNg ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249-Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín ký hiệu “QT” do phòng K Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa của bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và bản Luận tội về tội danh, các tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao so với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét tuyên xử bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt là từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù cũng để tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất nghiêm trọng, bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng không tu dưỡng bản thân, tiếp tục phạm tội do cố ý. Do vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

* Bị cáo không tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát. Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người làm chứng kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ ngày 22/12/2023, Trần Văn T, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã S, huyện L, đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,108 gam Heroin (đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu) tại thôn C, xã P, huyện L, thì bị Tổ công tác Công an xã P và xã S, huyện L phát hiện, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang cùng vật chứng.
  4. [4] Về áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Trần Văn T đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249-Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249-Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
  5. [5] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm xói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
  6. [6] Về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo đều là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.
  7. [7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  8. [8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51-Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.
  9. [9] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm là công tác quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy; Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị xử phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có thân nhân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng không tu dưỡng bản thâ mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý; nếu xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ không đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

  1. [10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5, Điều 249-Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì đáng giá, là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
  2. [11] Về những vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho Trần Văn T (theo như lời khai của T không biết ai, địa chỉ ở đâu). Tại phiên tòa bị cáo trình bày không biết người bán ma túy là ai, nếu có cho bị cáo nhận dạng thì bị cáo cũng không nhận dạng được. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân của đối tượng này, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau là có căn cứ.
  3. [12] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì dán kín ký hiệu “QT” do phòng K Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 47- Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. [13] Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
  5. [14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333-Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; điểm c, khoản 1, Điều 47-Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106; Điều 331, Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Trần Văn T 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín ký hiệu “QT” do phòng K Công an tỉnh B niêm phong, bên trong có chứa 0,089 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa Công an huyện L và C cụ Thi hành án dân sự huyện L).
  3. Về án phí: Miễn cho bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  4. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 17 giờ ngày 22/12/2023, Trần Văn T, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã S, huyện L, đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,108 gam Heroin (đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu) tại thôn C, xã P, huyện L, thì bị Tổ công tác Công an xã P và xã S, huyện L phát hiện, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang cùng vật chứng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger