|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày 18-7-2024
V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Nga
- Bà Lưu Thị Thôi
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hường, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 463/2024/QÐST - HNGÐ ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm: 1998. Địa chỉ: khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm: 1994. Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày:
Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Tiến T tự tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số 103/2016, ngày 15/11/2016.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau, cùng nhau làm việc lo ổn định kinh tế, lo cho gia đình và con cái. Đến năm 2022, bà H và ông T xảy ra nhiều mâu thuẫn, do cả hai không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên đời sống hàng ngày nặng nề và không còn hạnh phúc. Ông bà cũng đã cố gắng hòa giải, nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung nên đã sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay, mạnh ai người đó sống.
Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng với ông T không còn, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Tiến T.
- Về con chung: bà H và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 13/4/2013. Ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Tiến T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Toà án không ghi lời khai, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Về tố tụng : từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng : nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và vắng mặt tại phiên tòa.
- Về nội dung : Qua xem xét hồ sơ và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa bà Trần Thị H và ông Nguyễn Tiến T không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó:
Về hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H, bà Trần Thị H được ly hôn ông Nguyễn Tiến T.
Về con chung: bà H và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 13/4/2013. Ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Cháu N có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu, căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung : do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Tiến T. Ông T là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Nguyễn Tiến T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Tiến T tự tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số 103/2016, ngày 15/11/2016.
Trong quá trình chung sống do hai bên có sự bất đồng về cách sống nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, bà H và ông T không còn sự yêu thương, quý trọng nhau, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, hôn nhân không còn hạnh phúc. Về phía ông T, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để bà H và ông T hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng ông T đều vắng mặt.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng của vợ chồng bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
[4] Về con chung: bà H và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 13/4/2013.
Tại phiên tòa bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy cháu N là bé gái, cháu N có nguyện vọng ở với mẹ, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung: bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nợ chung: Bà H khai không có nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bà H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Đ, Đ, Đ, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân : Cho ly hôn giữa bà Trần Thị H và ông Nguyễn Tiến T.
Vê nuôi con: Buộc Ông Nguyễn Tiến T giao con chung tên Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 13/4/2013 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, bà Trần Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Tiến T cấp dưỡng tiền nuôi con.
Ông Nguyễn Tiến T và bà Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Ông Nguyễn Tiến T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Ngày 17/4/2024 bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001592 tại Chi cục thi hành án thành phố Phan Thiết nay chuyển sang thành án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà H đã nộp đủ án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 18/7/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Ái Quyên |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN THỊ HIẾU - NGUYỄN TIẾN THIÊN
