Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-6-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

 

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Minh Nguyệt.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • · Nguyên đơn: Anh Vũ Quang Đ, sinh năm 1989.
  • Nơi thường trú: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
  • · Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1989.
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Hiện sinh sống tại Liên bang N.

(Tại phiên tòa vắng mặt anh Vũ Quang Đ, chị Phạm Thị T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Vũ Quang Đ trình bày:

Anh và chị Phạm Thị T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 01 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do trục trặc về tình cảm. Đầu năm 2020 chị T đi lao động ở Liên bang N. Cả hai đã không liên lạc, không quan tâm đến nhau trong thời gian dài. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có một con chung là cháu Vũ Phạm Tuấn K, sinh ngày 25-5-2013, hiện đang sống cùng anh. Ly hôn anh có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Đ không đề nghị Toà án giải quyết.

* Bị đơn chị Phạm Thị T đã được Toà án gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn H và bà Đỗ Thị Ánh n thay. Chị T biết nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Đ nhưng đến nay chị T không gửi văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ, không có yêu cầu phản tố hoặc giao nộp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án. Chị T vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên toà xét xử không có lý do.

* Tại bản tự khai ngày 27 tháng 5 năm 2024 ông Phạm Văn H (là bố đẻ của chị T) trình bày: Chị T kết hôn với anh Đ vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý. Anh chị chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, khoảng tháng 01 năm 2020 chị T đi xuất khẩu lao động tại liên bang N chưa về nước. Anh chị có 01 con chung sinh năm 2013 tên là Vũ Phạm Tuấn K.

Ông H không biết chính xác địa chỉ của chị T tại liên bang N nên không thể cung cấp cho Tòa án, tuy nhiên chị T thường xuyên liên lạc với ông qua điện thoại hoặc mạng Internet. Ông đã thông tin về việc anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung với chị T, chị T có quan điểm đồng ý ly hôn với anh Đ do mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng đến nay không còn tình cảm. Chị T đồng ý giao cháu Vũ Phạm Tuấn K cho anh Đ nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung, ngoài ra không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác. Chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, mọi văn bản tố tụng đề nghị Tòa án gửi cho ông H để thông báo lại với chị. Ông Hội đồng ý nhận thay và nhận trách nhiệm thông báo ngay cho chị T biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

* Tại Đơn trình bày nguyện vọng của con ngày 04-4-2024 cháu Vũ Phạm Tuấn K trình bày: Trường hợp bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với bố vì bố có điều kiện chăm sóc cháu tốt hơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, Điều 80 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 xử ly hôn giữa anh Vũ Quang Đ và chị Phạm Thị T. Về con chung: Giao cháu Vũ Phạm Tuấn K cho anh Đ nuôi dưỡng chăm sóc, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Án phí ly hôn: Anh Đ phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị T đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng chị T vẫn vắng mặt. Anh Vũ Quang Đ có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ, chị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Quang Đ và chị Phạm Thị T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 01 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, chị T đi nước ngoài, vợ chồng sống ly thân từ lâu, cả hai không quan tâm, không liên lạc với nhau. Anh Đ làm đơn xin ly hôn, thông qua người nhà chị T có quan điểm đồng ý ly hôn do mâu thuẫn trầm trọng đến nay không còn tình cảm với anh Đ. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ1 là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị T và anh Đ có 01 con chung tên là Vũ Phạm Tuấn K, sinh ngày 25-5-2013, hiện đang sống cùng anh Đ, được chăm sóc và học tập ổn định. Khi ly hôn, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh sống hiện tại, xét nguyện vọng của cháu K, thấy tiếp tục giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng là hợp lý. Anh Đ không yêu cầu nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Đ không yêu cầu giải quyết, chị T không có ý kiến, không có văn bản trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Vũ Quang Đ phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Xử ly hôn giữa anh Vũ Quang Đ và chị Phạm Thị T.
  2. Về con chung: Giao cháu Vũ Phạm Tuấn K, sinh ngày 25-5-2013 cho anh Vũ Quang Đ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  3. Chị Phạm Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Vũ Quang Đ phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005736 ngày 15-4-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định. Anh Vũ Quang Đ đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Quang Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Chị Phạm Thị T được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Yên Minh;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn giữa anh Đ và c T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger