Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 52 /2024/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 9 năm 2024

Về việc: Ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Dương Văn Nguyên

2. Bà Thân Thị Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Ông Đàm Hoàng Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 140/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QĐST – HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 2000

Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Lã Văn C, sinh năm 1997

Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Chị với anh Lã Văn C tự nguyện kết hôn và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, ngày 02/02/2023. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh C không tôn trọng chị và gia đình chị, thường gây áp lực cho chị về mặt kinh tế, mối quan hệ giữa bố mẹ chồng với con dâu cũng không được hòa thuận, dẫn đến thường xuyên cãi chửi, va chạm nhau khiến cho không khí gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt. Hiện vợ chồng đang sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và quan hệ hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lã Văn C để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh Lã Văn C có 01 con chung là: Lã Đức D, sinh ngày 28/7/2023. Khi chị về nhà bố mẹ đẻ ở chị muốn mang con đi theo nhưng bị anh C và gia đình chồng cản trở không cho chị mang con đi cùng, có lần đã dẫn đến xô xát căng thẳng khiến chính quyền địa phương phải đến giải quyết. Thương con còn quá nhỏ mà phải sống xa mẹ, nên chị vẫn thường đến thăm con cho con bú sữa mẹ. Khi ly hôn chị mong muốn được trực tiếp nuôi con. Hiện chị đang sống cùng bố mẹ đẻ nên có sự hỗ trợ của bố mẹ đẻ về chỗ ở và việc chăm sóc con hàng ngày. Chị có công việc và thu nhập ổn định nên đảm bảo được việc chăm sóc nuôi dưỡng con tốt, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về công nợ chung: Không có

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lã Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận anh và chị Y tự nguyện kết hôn và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, ngày 02/02/2023. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Theo anh, hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn chỉ có chút mâu thuẫn nhỏ giữa quan hệ mẹ chồng nàng dâu nên chị Y giận dỗi bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và làm đơn yêu cầu ly hôn. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn chị Y suy nghĩa lại để vợ chồng về đoàn tụ cùng nuôi dạy chăm sóc con vì con còn rất nhỏ, rất cần sự chăm sóc của cả bố và mẹ. Anh không nhất trí ly hôn với chị Y.

Về con chung: Anh và chị Y có 01 con chung là cháu Lã Đức D, sinh ngày 28/7/2023. Từ ngày chị Y về nhà bố mẹ đẻ thì cháu vẫn ở cùng với anh và ông bà nội của cháu. Trường hợp hai vợ chồng phải ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lã Đức D. Anh không đồng ý giao con cho chị Y nuôi dưỡng vì chị Y đi làm cả ngày không có thời gian chăm sóc con. Anh không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về công nợ chung: Không có

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hòa giải, tạo điều kiện cho các đương sự có thời gian để suy nghĩ, tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, với mục đích để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, phía anh C mặc dù đã nhận được Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Vì vậy, không tiến hành hòa giải được nên Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Chị Y vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh C, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con do anh C không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên vắng nhà, ít chăm sóc con. Về tài sản chung, nợ chung chị xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định pháp luật. Đối với nguyên đơn tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 70,71 của BLTTDS. Về phía bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

  • - Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y và cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Lã Văn C.
  • - Về con chung: Đề nghị giao cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lã Đức D, sinh ngày 28/7/2023 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng nuôi con do các bên không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Không có
  • - Về nợ chung: Không có
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định.
  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lã Văn C kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 vào ngày 02/02/2023. Vì nhiều nguyên nhân, nay chị Nguyễn Thị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lã Văn C có nơi cư trú tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Lã Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Lý do chị Y xin ly hôn anh C là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C không tôn trọng chị và gia đình chị, thường gây áp lực cho chị về mặt kinh tế, khiến cho cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, ngột ngạt. Hiện vợ chồng đang sống ly thân nhau. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về đoàn tụ tiếp tục chung sống cùng nhau nên làm đơn xin ly hôn anh C. Trong quá trình giải quyết anh C cũng xác nhận vợ chồng đang sống ly thân nhau, do có chút mâu thuẫn nhỏ, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn vợ chồng quay về đoạn tụ cùng nhau chăm sóc con để cho con có bố, có mẹ nên anh không đồng ý ly hôn với chị Y.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa chị Y vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh C, phía anh C không nhất trí ly hôn nhưng cũng không đưa ra được phương án nào để thuyết phục chị Y quay về đoàn tụ. Bản thân anh C cũng xác nhận anh đã nhiều lần động viên chị Y quay về nhưng chị Y không đồng ý, hiện nay vợ chồng vẫn đang sống ly thân. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh C đã ở tình trạng trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không tồn tại nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Y, cho chị Y được ly hôn với anh C là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Y và anh C có 01 con chung là Lã Đức D, sinh ngày 28/7/2023. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa cả chị Y và anh C đều có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu D còn quá nhỏ (Cháu D sinh ngày 28/7/2023, tính đến thời điểm xét xử cháu D mới được 13 tháng 18 ngày tuổi, dưới 36 tháng tuổi) nên rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Vì vậy, căn cứ theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình cần giao cháu Lã Đức D cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế và pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y và anh C đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[2.4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51và Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu kiện của chị Nguyễn Thị Y, cho chị Y được ly hôn với anh Lã Văn C.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lã Đức D, sinh ngày 28/7/2023 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quyền thăm nom con: Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003887 ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Y, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt anh C báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (01 bản);
  • - VKS ND huyện, tỉnh (02 bản);
  • - T.H.A DS huyện (01 bản);
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - UBND xã Tân Thành;
  • - Lưu HS, VP, bộ phận;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kiện của chị Nguyễn Thị Yến, cho chị Yến được ly hôn với anh Lã Văn Chinh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger