|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:52/2024/HS-ST Ngày 16-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lèo Văn Hưởng, bà Quàng Thị Kim.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tham gia tại điểm cầu thành phần: Ông Đào Ngọc S - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Những người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Hoàng V, Lò Văn M - Cảnh sát hỗ trợ tư pháp Công an thành phố S, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 05/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST- HS ngày 05/4/2023 đối với bị cáo:
Cà Văn M1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/10/1993 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tiểu khu A, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Cà Văn B và bà Quàng Thị P; bị cáo có vợ là Lò Thị T, sinh năm 1993, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị T. Nơi đăng ký thường trú: Bản Tông, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tiểu khu A, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 09/01/2024, sau khi mua được ma tuý của một người phụ nữ (không quen biết) ở khu vực bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Cà Văn M1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wavea, biển kiểm soát 26B2-873.78 đi về khu vực bảnxã H, thành phố S thì bị tổ côngCông an xã Hnh phố S phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt giữ Cơ quan Công an thu giữ vật chứng gồm:
- 01 gói nilon màu xanh mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave a, biển kiểm soát 26B2-873.78; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y22S màu xanh đã qua sử dụng, bên trongsim V1 có số thuê bao 0364.459.927.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điềuCông an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: Cục bột màu trắng trong gói giấy bạc thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,17 gam, lấy 0,07 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu C. Còn lại 0,10 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu M.
Cơ quan Cảnh sát điềuCông an tỉnh S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữCà Văn M1 khi bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 11/01/2024Phòng Kg an tỉnh S kết luận:
Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, loại Hn), có tên khoa họcD, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,17 gam, loại Hn).
- Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Cáo trạng số 76/CT- VKSTP ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bịCà Văn M1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bịCà Văn M1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xửCà Văn M1 từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ vật chứng (hê rô in) còn lại sau khi trừ trích rút giám định và các mảnh nilon gói ma tuý ban đầu.
+ Trả lại cho bịCà Văn M1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y22S màu xanh đã qua sử dụng, bên trongsim V1 số thuê bao 0364459927.
+ Trả lại choLò Thị T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, biển kiểm soát 26B2-873.78, giấy chứng nhận đăng ký mangCà Văn M1.
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanLò Thị T (vợ của bịM1) trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, biển kiểm soát 26B2-873.78, giấy chứng nhận đăng ký mangCà Văn M1 là tài sản riêng củaT, nguồn gốc của chiếc xe là do bốT làLò Văn T1 cho tiền để mua. Thời điểm mua xe, do công việc chính củaT là ở nhà làm nội trợ, phục vụ gia đình và để thuận tiện cho việc tham gia giao thông nên đã đăng ký xe mang tên bịCà Văn M1. Ngày 09/01/2024, bịM1 sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội,T không biết và không tham gia.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điềuCông an thành phố Sn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
NgàyCà Văn M1 đã có hành vi cất giữ trái phép 0,17 gam Heroine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khubản L, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn Lan La.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như: bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo tại giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2024 tại khubản L, xã H, thành phố Sn La; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản
bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 11/01/2024Phòng KnhCông an tỉnh Sn La... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên toà không phát sinh thêm tình tiết mới.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: hành vi tàng trữ 0,17 gam hê rô in của bịCà Văn M1 đủ yếu tố cấu thành tội Tàngtrữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
[3.1] về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3.4]Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt. Trước lần phạm tội chưa bị xét xử về hành vi phạm tội nào khác và chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: khối lượng ma tuý bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,17gam (ở mức khởi điểm của khung hình phạt), có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhcó nhân thân tốt. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc 0,17 gam Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người nữ giới nhưng không biết họ, tuổi và địa chỉ ở đâu với giá 100.000 VNĐ (một trăm nghìn đồng) vào ngày 09/01/2024, tại khubản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn Lan La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan Cảnh sát điềuCông an thành phố Sn La không có căn cứ điều tra
mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng của vụ án gồm có:
+ Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ trích rút giám định và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y22S màu xanh đã qua sử dụng, bên trongsim V1 số thuê bao 0364459927. Quá trình điều tra xác minh đây là tài sản hợp pháp của bịCà Văn M1hông sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi vi phạm nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
+ Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, biển kiểm soát 26B2-873.78, số máy: JA39E3142753, số khung: RLHJA3925PY26682, giấy chứng nhận đăng kýCà Văn M1Minh. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Nguồn gốc chiếc xe trên làLò Văn T1Thảo (bốTThoa) cho tiền mua. Ngoài tài sản trên là phương tiện đi lại duy nhất của giaTThoa vàM1Minh không còn tài sản gì khác có giá trị. ViệcM1Minh sử dụng xe để thực hiện hành vi phạmTThoa không biết và không tham gia. Do vậy, căn cứ vào nguồn gốc số tiền mua xe, điều kiện kinh tế gia đình của vợ chồng bị cáoTThoa, bảo đảm cho nhu cầu thiết yếu đi lại của gia đình xét thấy không tịch thu mà cần trả lạiLò Thị TThoa quản lý, sử dụng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố:Cà Văn M1Minh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạtCà Văn M1Minh 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh, mẫu lưu ký hiệu M = 0,10 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong sốCông an thành phố Sn La).
- Trả lại choCà Văn M1Minh 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y22S màu xanh đã qua sử dụng, bênV1 số thuê bao 0364459927.
- Trả lạiLò Thị TThoa 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, biển kiểm soát 26B2-873.78, số máy: JA39E3142753, số khung: RLHJA3925PY26682, giấy chứng nhận đăng kýCà Văn M1Minh.(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điềuCông an thành phố Sn La và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
BuộcCà Văn M1Minh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 52 Cà Văn M - tàng trữ trái phép chất ma túy
